Cây đậu biếc còn gọi đậu hoa tím hay bông biếc, mang tên này có lẽ vì hoa có màu xanh tím biếc. Tên khoa học Clitoria ternatean thuộc họ đậu. Cây đậu biếc là loại thảo, leo, thân và cành mảnh có lông. Lá kép, hình trái xoan. Hoa mọc đơn độc ở nách lá, có hai lá bắc con hình tròn. Đài liền nhau hình ống, cánh có màu xanh biếc có một điểm vàng nhạt ở giữa, 10 nhị xếp thành 2 bó. Bầu có lông. Quả đậu biếc dẹt, có 5 – 10 hạt dẹt, màu đen bên trong.
Cây thường mọc hoang hoặc được trồng trước hiên nhà lấy bóng mát và để lấy quả. Bộ phận chứa chất độc của cây đậu biếc là hạt và rễ. Trong thành phần của hạt chứa các acid amin và một loại dầu độc dùng làm thuốc tẩy. Rễ có vị chát, đắng, chứa các chất có tác dụng lợi tiểu, nhuận tràng, gây xổ, làm dịu và săn da.
Tác dụng dược lý: ở một số quốc gia, rễ và hạt cây đậu biếc được dùng làm thuốc, ở liều cẩn thận có tác dụng giải nhiệt. Tại <_st13a_place w:st="on"><_st13a_country-region w:st="on">Indonesia, dùng trị bệnh lao phổi, đau ngực, ho và viêm lở ngoài da. Tại <_st13a_place w:st="on"><_st13a_country-region w:st="on">Philippines, người ta nghiền hạt pha thành thuốc gây xổ có hiệu quả nhanh, lá dùng đắp chữa mụn mủ ngoài da. Ở Ấn Độ, người ta còn dùng cây trị nọc rắn cắn.
Ngộ độc do ăn hạt đậu biếc: hạt đậu biếc chứa khoảng 12% chất dầu, có khả năng gây độc khi nhai nuốt phải. Ngộ độc xảy ra ở trẻ em khi ăn phải nhiều hạt. Tác dụng kích thích niêm mạc tiêu hóa gây nôn mửa, tiêu chảy nặng. Vì vậy, nếu nhà có trẻ nhỏ cần lưu ý nhắc nhở trẻ không chơi, không ăn hạt đậu biếc để tránh ngộ độc.

