Ngựa trong Đông y: Ích lợi sức khỏe ít người biết
Chính sự vận động bền bỉ, cảm giác tinh nhạy, khí lực sung mãn đã khiến ngựa sớm được y gia phương Đông chú ý, không chỉ như một động vật phục vụ đời sống mà còn là biểu tượng sinh động của khí - huyết - dương lực trong Đông y.
Nhân năm Bính Ngọ 2026, xin chia sẻ tác dụng của con ngựa trong Đông y và những điều thú vị về ngựa giúp chúng ta hiểu rõ hơn những giá trị sức khỏe ít người biết về con ngựa.
Ngựa trong hệ thống Can Chi - Ngũ hành
Theo lịch Can Chi phương Đông, ngựa (Ngọ) là con giáp thứ 7 trong vòng 12 địa chi (Tý - Sửu - Dần - Mão - Thìn - Tỵ - Ngọ - Mùi - Thân - Dậu - Tuất - Hợi). Địa chi Ngọ thuộc Hỏa, chủ tâm, liên hệ mật thiết với mạch, huyết và thần, tượng trưng cho nhiệt huyết, dương khí thịnh, hoạt động mạnh mẽ và sinh lực sung mãn. Vì vậy, hình tượng con ngựa trong Đông y thường được gắn với hành Hỏa, với dương khí (vận động) và với sự thông suốt của khí huyết.

Về mặt sinh học, ngựa là động vật có vú, ăn cỏ, thân hình cỡ trung bình, nặng khoảng 140–170 kg, với đầu, cổ và thân dài, lưng thẳng, bụng thon gọn. Đặc trưng nổi bật của ngựa là bốn chân khỏe, mỗi chân chỉ có một móng guốc - “guốc lẻ”, giúp chúng di chuyển nhanh, bền và linh hoạt trên nhiều địa hình. Bờm và đuôi ngựa là những túm lông dài, dày, buông rủ, tạo nên dáng vẻ vừa mạnh mẽ vừa uyển chuyển. Ngựa sở hữu thính giác, thị giác và khứu giác rất nhạy, bộ lông mướt với các màu nâu đỏ, nâu đen, xám đen, hoặc trắng - màu hiếm được cổ nhân đặc biệt coi trọng.
Từ cách đây 3.000 - 4.000 năm, ngựa đã được con người thuần dưỡng để chuyên chở, cưỡi, kéo xe, đua, trở thành người bạn đồng hành trung thành trong lao động, chiến trận và đời sống. Chu kỳ sinh sản của ngựa tương đối dài: mang thai gần một năm, mỗi lần chỉ sinh một con, khoảng hai năm mới đẻ một lần, cho thấy đây là loài vật có nhịp sinh học chậm, bền và ổn định.
Ở Việt Nam, ngựa được phân biệt theo vùng miền như ngựa Cao Bằng, Bắc Kạn, Lai Châu, Đà Lạt, Tây Ninh; trên thế giới có nhiều giống nổi tiếng như ngựa Mông Cổ, Ả Rập, ngựa Thảo Nguyên, ngựa Hungari với thân hình cao lớn, vạm vỡ.
Về cấu trúc cơ thể, ngựa có khoảng 205 xương, gần tương đương với số lượng xương ở người trưởng thành (206 xương). Hệ xương và khớp của ngựa đã tiến hóa sao cho các chi trước và sau có thể chịu lực lớn trong quá trình lao nhanh, với mỗi bàn chân thực chất là một ngón cái đã hóa xương giúp chịu lực tốt và giảm thiểu tổn thương khi di chuyển trên địa hình khác nhau.
Tác dụng của ngựa trong Đông y
Thời xa xưa, trong y học cổ truyền, ngựa được gọi là mã, nhiều bộ phận của ngựa từng được sử dụng làm thuốc (hiện nay cần tuân thủ nghiêm ngặt quy định bảo tồn và đạo đức y học). Tác dụng của ngựa trong Đông y xuất hiện sớm trong các bản thảo cổ như Thần Nông bản thảo, Bản thảo cương mục (Lý Thời Trân) và cũng được mô tả chi tiết trong Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam (Đỗ Huy Bích và cộng sự).

Trong sách Bản thảo cương mục có ghi: “Mã dĩ tây bắc giả vi thượng, đông nam chi mã vi liệt; nhập dược dĩ thuần bạch giả vi lương”, cho thấy cổ nhân coi ngựa vùng Tây Bắc được coi là tốt nhất; khi dùng làm thuốc, ngựa trắng thuần chủng được xem là thượng phẩm.
Thịt ngựa (mã nhục)
Thịt ngựa có vị ngọt, tính nóng, có tác dụng chữa thương tổn trung tiêu, trừ nhiệt, giáng khí, bổ gân, cường cơ, mạnh gân xương, bổ lưng cột sống, tăng cường thể lực và ý chí, nhẹ mình, không sinh cảm giác đói. Thịt ngựa là khẩu phần quan trọng và chủ yếu của dân tộc Mông Cổ trong bữa ăn hằng ngày. Người dân nước này quan niệm ngựa là con vật rong ruổi khắp thảo nguyên không biết mệt mỏi, bền bỉ với thời gian, chịu đựng được mọi khắc nghiệt của thiên nhiên. Do đó, ăn thịt ngựa, trẻ em cứng cáp, nhanh nhẹn, thanh niên vạm vỡ, cường tráng và người già không đau nhức, sống lâu. Người ta chế biến thịt ngựa thành những món ăn - vị thuốc hợp khẩu vị.
Làm thịt khô có thể trị chứng hàn nhiệt, bĩ trệ, bán thân bất toại. Nấu nước canh dùng rửa mụn nhọt ở đầu gây bạch đầu sang (rụng tóc, bạch điến) có hiệu quả. Trị tỳ đậu sang độc: mã nhục chủ thanh trấp, tẩy chi (Chữa mụn độc tỳ đậu: dùng nước nấu từ thịt ngựa để rửa.)
Sữa ngựa (mã nhũ)
Sữa ngựa có vị ngọt, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, tiêu khát, nhuận táo. Khi chế thành lạc (sữa lên men) chuyển sang tính ấm, uống vào giúp tiêu hóa thịt, có tác dụng giảm béo. Theo truyền thống, để trở nên tỉnh táo, nhanh nhẹn, những người dân du mục có cuộc sống gắn liền với ngựa thường uống sữa ngựa. Sữa ngựa được dùng rất phong phú và đa dạng. Sữa tươi pha ít đường trắng, đun sôi, uống hằng ngày là thuốc bổ, sinh huyết, dễ tiêu, chữa ho, ráo phổi.
Ở Đức, người ta dùng sữa ngựa để phục hồi sức khỏe mau chóng cho người bị lao phổi và bệnh mạn tính. Ở Nga, sữa ngựa được pha chế thành sữa chua để dùng giải khát và tăng lực rất tốt cho những người thường xuyên chịu tác động của khí hậu thảo nguyên như ở miền nam. Các bác sĩ ở Liên Xô trước đây đã phát hiện nhiều ưu điểm của sữa ngựa chua như nâng cao khẩu vị, giúp cơ thể tiêu hóa thức ăn tốt, tăng hưng phấn khi mệt mỏi, chữa khỏi bệnh đường hô hấp, đường tiêu hóa, bài tiết - sinh dục, hệ thần kinh và nhiều loại bệnh ngoài da.
Ở Mông Cổ, người dân lại có tập quán lâu đời dùng rượu sữa ngựa để bồi dưỡng, làm giảm béo chữa thiếu máu, bệnh lao phổi. Rượu mang tên Arok được làm theo cách sau: Đựng sữa ngựa trong một túi da, lấy đũa khuấy đều. Khoảng 7 - 10 ngày, sữa có mùi chua. Lấy ít rượu sữa ngựa của năm trước cho vào túi đựng sữa ngựa và 10 ngày sau là thành rượu. Có thể dùng rượu sữa ngựa quanh năm. Ở một số nước, các thầy thuốc khoa nhi khuyên nên dùng sữa ngựa bổ sung cho trẻ thiếu tháng.
Xương ngựa (mã cốt)
Xương ngựa có vị ngọt, tính mát, có tác dụng bổ dưỡng, ích khí, mạnh gân xương. Xương ngựa (thường là ngựa bạch) được nấu thành cao để chữa suy nhược ở người mới ốm dậy và phụ nữ sau khi đẻ, đau nhức gân xương, kinh nguyệt không đều, trẻ em còi xương, xanh xao, biếng ăn. Thuốc cũng rất tốt đối với người cao tuổi.
Liều dùng hằng ngày: 5 - 10g cao với mật ong (1 thìa), hấp cách thủy rồi ăn hoặc ngâm cao (100g) trong 1 lít rượu 40 độ (để lâu càng tốt), mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 chén nhỏ. Không dùng rượu cao ngựa cho trẻ em. Kiêng kỵ: Các chất tanh như tôm, cá, cua, chất cay (tỏi, ớt. hạt tiêu), nước chè đặc, măng, đậu xanh, rau muống.
Cách nấu cao xương ngựa giống như nấu cao xương dê. Thông thường từ một bộ xương ngựa, có thể nấu được 5-6kg cao đặc. Cao có màu vàng, để lâu màu sẫm hơn, đóng thành bánh 100g, tan trong rượu mạnh thành màu trắng sữa. Cao ngựa bạch ngày xưa chỉ được dùng cho vua chúa.
Có thể tận dụng bã xương ngựa đã nấu cao để bào chế thành bột xương theo cách sau: Bã xương đem rửa sạch, phơi khô, rồi nung ở lò than đang cháy đỏ trong 15 phút. Xương nung xong trở nên nhẹ, xốp, trắng muốt như thạch cao, dễ vỡ. Cho xương đã nung vào máy xay hoặc cối đá, giã và rây thành bột mịn. Đổ bột này vào 3 lít nước trong và sạch với tỷ lệ 1 kg bột xương với 3 lít nước. Đun sôi trong 1 giờ. Để nguội, gạn lấy bột đem phơi hoặc sấy khô. Rây lại cho bột thật mịn. Khi dùng, mỗi lần uống 5 - 10g bột pha với nước đường loãng. bột bã xương ngựa cũng là thuốc bổ xương và chữa được bệnh đau dạ dày thừa vị toan và bệnh tiêu chảy.
Tim ngựa (mã tâm)
Về tính chất, tim ngựa đại khái cũng giống như thịt ngựa nhưng duy có theo một số y văn cổ, tim ngựa có thể giúp chữa cho người ta khỏi được chứng hay quên.
Gan ngựa (mã can)
Trị kinh nguyệt không thông, ngực bụng đầy trệ, tay chân đau nhức: Dùng một miếng gan ngựa đỏ, sao vàng, tán mịn. Mỗi lần uống 1 tiền (khoảng 3,75gam) hòa với rượu nóng. Khi kinh thông thì ngừng.
Phổi ngựa (mã phế)
Chữa được người bị chứng âm suy. Hay là chứng sốt rét (nóng lạnh)
Phân ngựa trắng (bạch mã thỉ)
Phân ngựa bạch có tính hơi ấm, không độc. Dùng cầm tiêu chảy, cầm thổ huyết, hạ huyết, chảy máu cam. Cầm máu trong thương tích chảy máu, và phụ nữ băng kinh. Đắp lên đỉnh đầu giúp cầm chảy máu cam…
Phân ngựa đốt cháy thành than, uống 4g mỗi lần với rượu chữa phạm phòng; phối với đậu đỏ, lượng bằng nhau, đốt tồn tính, tán bột, ngày uống 4 - 8g với rượu chữa thổ huyết (Nam dược thần hiệu). Để chữa đau bụng co thắt dữ dội, lấy phân ngựa (40g, sao đen) trộn với hoàng thổ (40g, sao qua), tất cả tán nhỏ, rây bột mịn. Ngày dùng 10 - 20g uống với ít rượu hâm nóng (Lương y Vũ Văn Kính).
Chữa sưng độc do mai độc (tương ứng giang mai) tưởng chừng nguy tử: dùng nước vắt từ phân ngựa uống, hiệu quả nhanh.
Chữa ngón tay ung nhọt, nứt nẻ lở loét: dùng bột phân ngựa, lấy ngón tay xoa hằng ngày.
Nhau ngựa (mã bào y)
Dùng chữa phụ nữ kinh nguyệt không thông. Sau khi sao tồn tính, tán mịn, mỗi lần uống 3 tiền (khoảng 11,25g), thêm một chút nộn hương (hương liệu nhẹ), hòa với nước giếng mới múc, uống lúc bụng rỗng. Thường không quá 3 lần là hiệu quả tốt.
Dương vật ngựa
Dương vật ngựa phối hợp với nhục thung dung (lượng mỗi thứ 20g) tán nhỏ, rây bột mịn, trộn với mật ong làm viên bằng hạt đỗ xanh. Ngày uống 6g trước bữa ăn. Chữa liệt dương.
Ruột ngựa (ruột thừa - ruột mù của ngựa)
Vị ngọt, tính bình, có độc nhẹ. Trị trẻ nhỏ bị chứng “mã thống” (đau bụng, đau quặn), dùng sắc nước uống. Đốt thành tro, trộn với nước bọt, bôi lên mụn nhọt sưng đau có hiệu quả.
Máu ngựa
Từ huyết tương đã miễn dịch của ngựa được tiêm nhiều lần với lượng nhỏ nọc độc của rắn, người ta đã sản xuất huyết thanh đặc trị rắn độc cắn. Và từ máu ngựa có thai, chất kích dục tố đã được chiết tách với tác dụng làm giảm tỷ lệ vô sinh, tăng sinh sản ở gia súc và gia cầm, rút ngắn thời gian giữa hai lứa đẻ. Chất này cũng được pha chế dạng huyết thanh để sử dụng rộng rãi trong ngành chăn nuôi ở Việt Nam.
Ngoài ra, máu ngựa còn được nghiên cứu sản xuất các chế phẩm sinh học khác như huyết thanh kháng trực khuẩn mủ xanh và kháng tụ cầu trùng vàng để điều trị các bệnh nhiễm trùng máu và vết bỏng, huyết thanh chống uốn ván...
Móng chân ngựa
Đốt thành than, tán nhỏ, trộn với mỡ lợn, bôi ngày 3 lần, chữa trĩ ngoại.
Tuy nhiên, ngày nay, y học cổ truyền không khuyến khích lạm dụng động vật hay sử dụng trực tiếp chế phẩm từ ngựa, mà kế thừa tinh thần “bổ khí - hành huyết - cường gân cốt” thông qua thảo dược an toàn hơn.
Nếu Rắn dạy con người về “Trí tuệ - Tái sinh - Chữa lành”, Ngựa dạy chúng ta về “Vận động để sống - Bền bỉ để hồi phục - Kiên trì để vượt bệnh tật”. Trong y học, điều trị không chỉ là thuốc, mà còn là khơi dậy sức sống nội tại - giống như đánh thức con ngựa đang chờ được phi nước đại trong mỗi con người.
Mừng Xuân - Mừng năm Bính Ngọ 2026, kính chúc quý đồng nghiệp và bạn đọc Tạp chí Khoa học phổ thông - Sống Xanh “khí huyết hanh thông - Thân tâm an lạc - Sức khỏe bền bỉ như vó ngựa đường dài”.
Ngựa là biểu tượng hoàn chỉnh của khí lực - vận động liên tục - phối hợp nhịp nhàng giữa ý chí và thân thể. Điều này tương đồng sâu sắc với nguyên lý “khí hành thì huyết hành” trong Đông y và nguyên lý vận động trị liệu trong y học hiện đại. Phục hồi chức năng không chỉ là chữa bệnh, mà là khôi phục khả năng vận động - hòa nhập - làm chủ cuộc sống, đúng như tinh thần của con ngựa.

