Tết nay nhớ miền ký ức Tết xưa
Dù thoải mái mua hàng để đón Tết nay hay Tết xưa có eo hẹp một chút, nhà nhà đều mong cầu một năm mới đủ đầy, con cháu sum họp, vẫn cái ngóng trông người đi xa về nhà ăn Tết. Tuy đã lên chức ông bà, nét đẹp truyền thống của Tết xưa vẫn in đậm trong tâm trí chúng tôi, những người con gốc Bắc.

Chuẩn bị đón Tết xưa đồng nghĩa … với xếp hàng
Thời bao cấp là tên gọi giai đoạn mà hầu hết mọi sinh hoạt kinh tế đều được nhà nước bao cấp. Mỗi khi Tết đến, khó có chuyện muốn mua gì được nấy. Tất tần tật được nhà nước cấp theo chế độ tem phiếu, chứ không có sẵn trên thị trường như ngày nay. Mọi hàng hóa nhu yếu phẩm, từ lương thực, thực phẩm như gạo, thịt, cá đến bìa đậu phụ, chai nước mắm, chất đốt, xà phòng, mì chính..., đều phải mua bằng phiếu theo định mức nhưng cũng rất hạn chế. Mỗi gia đình được cấp một lượng gạo cụ thể mỗi năm 12 tháng cho các thành viên trong nhà. Còn thực phẩm, trung bình mỗi người được 3 - 5 lạng thịt/tháng.
Sống trong thời kỳ tem phiếu là phải xếp hàng mua lương thực, thực phẩm tại các cửa hàng mậu dịch. Ngay cả hộ độc thân cũng phải mua nhiều thứ, và tất nhiên phải xếp hàng cho các món này. Chưa hết, nếu không kịp mua, hết hạn phải bỏ phí, vì vậy mới có chuyện xếp hàng bằng gạch, nón, túi xách..., thậm chí có người xếp từ tối hôm trước, sáng hôm sau đến lượt thì lại hết hàng.

Tuy háo hức mong Tết về nhưng mọi thứ vẫn eo hẹp. Đối với nhiều người, chính sự thiếu thốn, khó khăn ấy lại khiến cho cái Tết ngày ấy thực sự mang ý nghĩa với những hình ảnh, mùi vị khó quên để khi nghĩ tới, chúng tôi, những người từng sống qua giai đoạn ấy không bao giờ quên được vì nó chứa cái gì đó buồn vui lẫn lộn.
Tôi đã ngoài 60, sinh ra ở vùng quê Bắc Bộ, nhà tuy không đông, chỉ có ba anh chị em nhưng thỉnh thoảng bữa cơm mới có mấy miếng thịt, anh lớn lại nhường em nhỏ. Ngày ấy, chỉ có đến Tết may ra mới được các bữa ăn có thịt đúng nghĩa hay theo cách gọi dân dã là ‘no ba ngày Tết’. Mùi vị của miếng thịt, khoanh giò những ngày ấy sao mà ngon đến thế!
Nhân nói về chuyện thời bao cấp, tôi còn nhớ chuyện bố tôi phải làm đơn xin mổ lợn. Lợn nhà nuôi nhưng không được giết mà phải bán cho nhà nước, mỗi năm phải đủ một khối lượng theo chỉ tiêu quy định, nếu vượt chỉ tiêu và đảm bảo phân bón ruộng theo quy định, mới được giết lợn ăn Tết. Nhưng trước khi mổ lợn phải được ‘cấp phép’ từ chính quyền địa phương. Riêng giết trâu bò bị cấm tuyệt đối vì sợ “phá hoại sức kéo”.

Các gia đình làm nông nghiệp tự trồng trọt, chăn nuôi để cải thiện đời sống như nuôi thêm gà, con vịt, trồng thêm mấy luống rau, cái Tết cũng sung túc hơn. Còn cán bộ, viên chức nhà nước do tranh thủ tăng gia sản xuất cuối tuần nên cũng có thêm thu nhập. Mọi người đều hăng say lao động, ăn tiêu tiết kiệm để dành cho Tết cuối năm. Người lớn lo chạy chợ kiếm thêm tiền sắm Tết, còn tụi nhỏ chỉ mong mau đến Tết để được ‘nghỉ học, ăn ngon, mặc đẹp”. Nói là sắm quần áo mới chứ thực ra cũng chẳng ai hơn ai, bởi số vải được phân phối bằng nhau hết, cả năm mỗi người được khoảng 4 - 5m gì đó. Cũng phải nói thêm rằng, nhờ tiết kiệm cả năm nên ngày Tết, ai ai, đặc biệt bọn trẻ con trong nhà, cũng ăn mặc đẹp và có “thịt treo trong nhà".
Tết đến người đi làm xa sẽ về tụ họp với gia đình, nên không khí càng thêm xôm tụ. Làng trên xóm dưới đua nhau đãi gạo, đãi đỗ, rửa lá dong, nhà nhà bắt gà bắt vịt, tát ao bắt cá, ồn ào náo nhiệt nghe thật vui tai. Ở một số nơi sau giao thừa, nhiều người trong xóm thường cùng nhau đi cúng chùa, đi gánh một gánh nước ở sông, suối, ao, giếng về nhà, với hy vọng mang lại may mắn trong cả năm. Một số vùng quê xưa còn có lệ họp đồng hương, với sự góp mặt của tất cả mọi người trong làng đi thoát ly, làm ăn xa về quê đón Tết. Âm thanh rộn ràng của pháo cũng là đặc trưng của Tết thời bao cấp. Sau giao thừa, hàng xóm láng giềng đi từng tốp đến nhà nhau mừng Xuân chúc Tết.
Tết xưa - Miền ký ức dịu dàng
Tết xưa trong tôi là một miền ký ức dịu dàng, mọi chi tiết nhỏ còn lắng đọng với sự háo hức và tình thân. Với một đứa bé như tôi, Tết là cả một thiên đường rộn ràng. Tôi vẫn nhớ như in khi được đi chợ Tết với mẹ. Đó là một buổi sáng se lạnh, chợ quê ngày ấy không lớn nhưng cũng đầy đủ sắc màu: Những bó hoa cúc vàng rực rỡ, những chồng lá dong xanh mướt, những thúng gạo nếp trắng tinh. Tôi lẽo đẽo theo mẹ, mắt sáng lên ngắm nhìn những sạp hàng bánh kẹo, mứt các loại.
Từ khoảng hai tuần trước Tết cả làng đã bắt đầu nhộn nhịp. Tôi nhớ cảnh cả nhà tất bật dọn dẹp. Cha tôi dọn dẹp và trang trí nhà cửa, treo những đôi câu đối mới, lau chùi bàn thờ, mẹ tôi lo mua sắm những thực phẩm và những vật dụng phục vụ cho ngày Tết. Còn tôi quanh quẩn phụ giúp những việc nhỏ như nhặt rửa lá dong, vo gạo nếp… Cái cảm giác được tham gia vào việc chuẩn bị cho ngày Tết khiến tôi thấy mình “lớn” hơn nhiều.

Ngày 30 Tết, nhà tôi cùng với mấy bác trong xóm cùng nhau thịt chung một con lợn hay còn gọi là đụng lợn. Con lợn nuôi có tới cả năm chắc mới được khoảng 50 - 60 kg. Thịt được chia đều cho từng nhà có đầy đủ cả xương, thịt, mỡ và cả món lòng lợn, tiết canh món khoái khẩu mà chỉ có ở ngày 30 Tết con cháu, người thân mới được thưởng thức. Thịt lợn thật thơm và ngon. Tối 30 Tết cả nhà quây quần bên nồi bánh chưng. Khói bếp quyện cùng hương trầm tạo nên một mùi thơm đặc trưng của những ngày Tết. Tôi ngồi bên cha, nghe tiếng củi nổ tí tách, nhìn nồi bánh chưng sôi sùng sục. Tôi cứ mong trời mau sáng để được bóc chiếc bánh đầu tiên, ăn miếng bánh nóng hổi chấm với đường nó ngon và ngọt làm sao. Cảm giác ấy vẫn còn đọng lại trong tôi đến tận bây giờ.
Tết với tôi là bộ quần áo mới mẹ sắm, kèm đôi dép thơm mùi nhựa mới, là tiếng pháo lép bép ngoài ngõ, là những đồng tiền mừng tuổi. Tôi vẫn nhớ cái cảm giác được mặc quần áo mới, đi dép mới, tay cầm phong bì đỏ được ông bà, cha mẹ mừng tuổi sáng mồng Một Tết chạy tung tăng khoe với chúng bạn.

Sáng mồng Một Tết, cả gia đình quây quần bên mâm cơm cúng tổ tiên. Tôi ngồi nghe cha mẹ kể chuyện Tết xưa, chuyện những năm đói kém mà vẫn giữ được nồi bánh chưng xanh. Tết không có nhiều vật chất nhưng lại ăm ắp tình người. Hàng xóm sang chúc nhau, biếu nhau chiếc bánh chưng tự làm. Rồi cả gia đình quây quần bên mâm cơm cùng nhau nâng chén rượu nồng chúc một năm mới hạnh phúc và bình an. Những câu chuyện ngày ấy gieo vào lòng tôi niềm trân trọng. Cảm giác ấy thật giản dị nhưng hạnh phúc.
Tết xưa trong ký ức là sự hòa quyện của hương vị, âm thanh và tình cảm. Nó không chỉ là ngày lễ mà là khoảnh khắc để con người tìm về sự gắn kết, để nhớ rằng hạnh phúc đôi khi chỉ đơn giản là được ở bên nhau.
Thời gian trôi đi, tôi lớn lên, rời quê đi học, đi làm. Tết trong thành phố và Tết ngày nay mang hương vị khác, ít khói bếp, ít tiếng pháo, nhưng lại nhiều ánh đèn nhiều sắc màu hiện đại. Tôi không còn được ngồi bên nồi bánh chưng suốt đêm cùng cha mẹ, nhưng vẫn giữ thói quen về quê để tìm lại hương vị xưa.
Ngày nay Tết có thêm nhiều thứ mới, những hộp quà sang trọng, những chuyến du lịch xa, những lời chúc Tết qua điện thoại. Nhưng trong lòng tôi, Tết vẫn là khoảnh khắc sum vầy, là mâm cơm gia đình, là nụ cười của cha mẹ khi thấy con cháu trở về. Tết nay có thể khác Tết xưa nhưng chính sự khác biệt ấy làm cho ký ức tuổi thơ càng trở nên quý giá. Tôi nhận ra hương vị Tết không nằm ở vật chất, mà ở sự đoàn tụ, ở tình cảm gắn kết. Và mỗi khi cứ độ Xuân về tôi lại thấy mình như đứa trẻ năm nào háo hức trước sắc hoa đào, trước tiếng cười rộn ràng để rồi thầm nhắc: "Tết đã về".

