Đưa tài sản trí tuệ thành giá trị kinh tế
Trong bối cảnh kinh tế số và đổi mới sáng tạo trở thành động lực tăng trưởng, bài toán biến tài sản trí tuệ thành giá trị kinh tế đang được đặt ra cấp thiết trước nhiều vấn đề mới như trí tuệ nhân tạo, yêu cầu cân bằng giữa bảo hộ với chia sẻ tri thức.
Ngày 24/4, tại TP.HCM, Cục Sở hữu trí tuệ phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM, Hội Sở hữu trí tuệ TP.HCM, Trường Đại học Công nghệ TP.HCM (HUTECH) tổ chức hội thảo “Giải pháp khai thác, phát triển tài sản trí tuệ trong kỷ nguyên khoa học công nghệ số”.
Thương mại hóa tài sản trí tuệ còn nhiều hạn chế
Phát biểu tại hội thảo, TS Trần Lê Hồng - Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ - cho biết tại Việt Nam, nhiều chủ trương, chính sách lớn đã được ban hành nhằm thúc đẩy khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nổi bật là Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị, trong đó sở hữu trí tuệ được xác định là một trụ cột quan trọng của quá trình phát triển và chuyển đổi số quốc gia.

Hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ cũng không ngừng được hoàn thiện, phù hợp các cam kết quốc tế, đồng thời hướng tới đẩy mạnh ứng dụng và thương mại hóa tài sản trí tuệ trong sản xuất - kinh doanh, góp phần tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững.
Tuy vậy, ông cũng thẳng thắn chỉ ra nhiều hạn chế: hoạt động khai thác và thương mại hóa tài sản trí tuệ còn yếu; liên kết giữa nghiên cứu - ứng dụng - thị trường chưa hiệu quả; năng lực quản trị tài sản trí tuệ của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn hạn chế. Bên cạnh đó, tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ vẫn diễn biến phức tạp, nhất là trong môi trường số.
Đáng chú ý, sự phát triển nhanh của công nghệ cũng đặt ra nhiều vấn đề mới như quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến AI, khai thác tài sản trí tuệ trên nền tảng số hay bài toán cân bằng giữa bảo hộ và chia sẻ tri thức, những vấn đề mang tính toàn cầu.
Theo GS.TS Lê Văn Cảnh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ TP.HCM, vai trò then chốt của sở hữu trí tuệ trong việc thúc đẩy nghiên cứu khoa học gắn với thực tiễn và phát triển kinh tế - xã hội.

GS.TS Lê Văn Cảnh cho biết Việt Nam đang đẩy mạnh triển khai các chính sách phát triển khoa học - công nghệ, sở hữu trí tuệ không chỉ là công cụ pháp lý mà còn là “nguồn sống” giúp các kết quả nghiên cứu được bảo vệ, phát triển và lan tỏa giá trị.
“Các trường đại học không chỉ dừng lại ở nghiên cứu, mà cần hướng đến mục tiêu cuối cùng là đưa các giải pháp, sản phẩm khoa học vào thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội”, ông Cảnh nói.
Tuy nhiên, để hành trình này đi đến đích, theo ông, việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu là bước không thể thiếu. Nếu thiếu khâu này, nhiều công trình khoa học dù có giá trị vẫn khó tạo ra tác động thực tế.
Tài sản vô hình - “mỏ vàng” cần được khai thác đúng mức
Theo ông Trần Giang Khuê - Trưởng đại diện Văn phòng Cục Sở hữu trí tuệ tại TP.HCM - trong bối cảnh hiện nay, tài sản trí tuệ không chỉ dừng lại ở việc bảo hộ mà ngày càng được nhấn mạnh ở khả năng vốn hóa và thương mại hóa. Tinh thần này đã được thể hiện rõ trong Nghị quyết 57 về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. “Từ trí tuệ đến tiền tệ” không còn là khẩu hiệu, mà là yêu cầu thực tiễn đặt ra đối với các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp.

Dẫn chứng từ thực tế quốc tế, ông Khuê cho biết giá trị thương hiệu của các tập đoàn lớn chủ yếu đến từ tài sản vô hình. Chẳng hạn, một thương hiệu công nghệ toàn cầu có thể đạt hàng trăm tỷ USD, trong đó phần lớn giá trị nằm ở tài sản trí tuệ. Trong khi đó, tại Việt Nam, tỷ trọng tài sản vô hình trong doanh nghiệp vẫn còn khá khiêm tốn, dù xu hướng chung của thế giới đã lên đến 85-90%, thậm chí cao hơn trong kỷ nguyên số.
Điển hình là Apple, thương hiệu được Brand Finance định giá khoảng 574 tỷ USD vào năm 2025. Đáng chú ý, phần lớn giá trị này đến từ tài sản vô hình.







“Tài sản vô hình không chỉ là sáng chế, nhãn hiệu, mà còn bao gồm uy tín, danh tiếng, dữ liệu, kết quả nghiên cứu hay bí quyết công nghệ. Vấn đề là chúng ta phải nhận diện đầy đủ và đưa được những tài sản này vào hệ thống quản trị, kế toán, kiểm toán thì mới có thể biến chúng thành giá trị kinh tế thực sự”, ông nhấn mạnh.
Tuy nhiên, một trong những “điểm nghẽn” lớn hiện nay là năng lực định giá tài sản trí tuệ. Theo diễn giả, nếu không định giá được, không đưa được vào dòng tiền, thì tài sản trí tuệ sẽ vẫn chỉ “tồn tại ở đâu đó”, không thể phát huy giá trị. Trong khi đó, đây lại là lĩnh vực đòi hỏi chuyên môn cao và hiện còn thiếu nhân lực tại Việt Nam.

ThS Nguyễn Thị Ngọc Nhung - Phó Trưởng Phòng Quản lý Sở hữu trí tuệ và Đổi mới sáng tạo, Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM cho biết cho biết hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của TP.HCM đang phát triển mạnh mẽ.
Theo đó, thành phố với khoảng 151 doanh nghiệp khoa học và công nghệ, gần 500 tổ chức khoa học và công nghệ, khoảng 30.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin - truyền thông (ICT), cùng khoảng 100 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và hơn 100 trường đại học, cao đẳng. TP.HCM cũng nằm trong top 100 thành phố có hệ sinh thái khởi nghiệp năng động nhất toàn cầu.
Đáng chú ý, Thành phố vừa đưa vào hoạt động không gian hỗ trợ khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo tại địa chỉ 123 Trương Định, được kỳ vọng trở thành đầu mối kết nối, thúc đẩy các hoạt động đổi mới sáng tạo trên địa bàn.
TP.HCM đang triển khai đồng bộ 7 nhóm chính sách nhằm hỗ trợ xác lập quyền, thúc đẩy phát triển, khai thác tài sản trí tuệ, nâng cao năng lực cạnh tranh, phấn đấu dẫn đầu cả nước đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp.
Cụ thể huấn luyện quản trị viên tài sản trí tuệ; hỗ trợ kinh phí đăng ký sở hữu trí tuệ, đề án Trung tâm CoE; Thương mại hóa kết quả nghiên cứu, Sàn Giao dịch Công nghệ, Hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, cuộc thi sở hữu trí tuệ.
ThS Nguyễn Thị Ngọc Nhung - Phó Trưởng phòng Quản lý Sở hữu trí tuệ và Đổi mới sáng tạo, Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM - cho biết TP.HCM đang tập trung triển khai thí điểm Đề án thí điểm thương mại hóa kết quả nghiên cứu và tài sản trí tuệ, giai đoạn 2026-2028.
Đề án nhằm rút ngắn thời gian chuyển giao, đưa nhanh kết quả nghiên cứu từ ngân sách vào sản xuất kinh doanh; xây dựng mô hình quản trị và giám sát thương mại hóa hiệu quả. Theo mục tiêu đề ra, sau khi hoàn thành thí điểm, sẽ có ít nhất 10 sản phẩm khoa học - công nghệ được đưa ra thị trường; tỷ lệ thương mại hóa tài sản trí tuệ từ các nhiệm vụ khoa học công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước đạt khoảng 8-10%. Đồng thời, đề án hướng tới xây dựng hiệu quả mô hình hợp tác “3 nhà” giữa Nhà nước - Nhà trường - Nhà doanh nghiệp.

