Hiện tượng học kém dần của học sinh, sinh viên

ThS. Trịnh Văn Anh - Viện nghiên cứu giáo dục| 06/09/2010 10:26

Hiện nay đang có hiện tượng học sinh "trượt dốc" theo cấp bậc đào tạo. Càng ở cấp dưới (cấp tiểu học) tỷ lệ học sinh giỏi (theo đúng nghĩa) càng nhiều, nhưng khi bước tới thời trung học, đặc biệt là trung học phổ thông con số đó rơi rụng rất nhiều. Đơn cử, thống kê số liệu kết quả loại học lực học kỳ 1, năm học 2009 - 2010 của Sở GD-ĐT TP. HCM mới đây cho thấy, số học sinh (HS) lớp 9 đạt khá giỏi 57,67% (ở năm học 2008 - 2009) nhưng khi vào lớp 10 chỉ còn khoảng 38% (giảm gần 20%). Đặc biệt, số HS lớp 9 yếu kém ở năm học trước là 9,3%, khi vào lớp 10 đã tăng lên gần 25%.<_o3a_p>

Nhiều người thừa nhận rằng, một nguyên nhân không nhỏ tác động đến khả năng tiếp thu tri thức về lâu dài, đuối sức khi học lên cao là dạy cho trẻ biết chữ quá sớm. Khoa học đã kiểm nghiệm, chỉ nên cho trẻ từ 6 tuổi trở lên mới được học chữ; Bộ giáo dục và đào tạo cũng quy định "không dạy cho trẻ biết chữ trước khi bước vào lớp một", song có những bậc cha mẹ thấy con mình mới 3 - 4 tuổi đã có khả năng ấy nên không ngần ngại đầu tư cho "cục cưng" của mình, thậm chí cho đó là "thần đồng" cần phải bồi dưỡng sớm. Sau tiết mục nhồi chữ là bồi bổ với thực đơn như: thực phẩm chức năng, thuốc bổ não, sữa thông minh... dành cho đứa trẻ non nớt mà chính ra lứa tuổi đó phải được phát triển một cách tự nhiên. Ở nhà đã vậy, lên trường các cháu lại được cô giáo rèn chữ, ghép vần phụ đạo thêm cho "cứng cáp". Tuy nhiên, không phải phụ huynh nào cũng có điều kiện lo cho con mình như thế, nên có những trẻ nhỏ khi vào lớp một không biết chữ đã chịu nhiều áp lực tâm lý tự ti, mặc cảm vì kém chúng bạn, khó khăn trong tiếp thu kiến thức, bởi cô giáo phải dạy theo số đông học sinh đã biết chữ. Quả thật, khó cho cả cô lẫn trò!

Nạn dạy thêm, học thêm, thi cử góp phần làm trầm trọng thêm. Có lẽ, 6 tuổi mà trở thành "sĩ tử" chỉ có ở Việt Nam, cửa ải này vô hình chung tập cho bé phải làm quen với áp lực thi cử ngay từ ngày đầu tiên cắp sách đến trường. Quá trình này kéo dài lê thê suốt mười hai năm phổ thông, nạn "dạy ngày không đủ tranh thủ dạy đêm" kéo theo phụ huynh phải kiếm thật nhiều tiền đầu tư cho con đi học, rồi học sinh phải quay cuồng điên đầu với "học và thi" như lao vào cuộc chiến "sống còn". Thay vì "mỗi ngày đến trường náo nức một ngày vui", thì sự thật bây giờ, nhiều đứa trẻ đến trường với một tâm lý nặng nề, đôi khi cả sợ hãi. Trạng thái tâm lý đó xuất phát bởi áp lực từ những thành tích học tập, thi cử được "số hoá" đến từ 2 phía nhà trường và gia đình, nếu không muốn nói đến cả từ chính Bộ GD - ĐT.

Chương trình, sách giáo khoa quá nặng và ôm đồm đủ thứ nên các em không thể có thời gian và khoảng trống cho sự vui chơi, tư duy, sáng tạo, tự học, tự nghiên cứu. Trong cuốn "Thời đi học của những người nổi tiếng" cho thấy phần lớn những phát minh của các nhà khoa học lại xuất phát từ những trò chơi, ý tưởng rất ngộ nghĩnh thuở thơ ấu. "Ở các nước phương Tây, học sinh các lớp dưới vừa học vừa chơi, vừa mở mang tâm trí bên ngoài sách vở, biết dưỡng sức, sau này đi xa, rất xa, đến 60-70 tuổi vẫn còn tiến thủ" (GS. Hoàng Tụy). Phải chăng chương trình quá nặng, ôm đồm khiến các em kiệt sức ngay thời phổ thông là nguyên nhân chính cho việc tiếp thu tri thức cũng như khả năng sáng tạo cho sinh viên sau này?

Cách dạy, cách học, cách thi hiện nay rất khó phát huy khả năng sáng tạo cho người học. Thời học sinh não phát triển rất mạnh, lẽ ra nó phải tự do bay bổng, tư duy sáng tạo thì lại nhường chỗ cho học thuộc bài vì lối dạy đọc chép của thầy cô, từ đó tạo đường mòn cho học sinh tiếp thu theo kiểu "ghi âm tri thức". Một số sinh viên truyền miệng nhau rằng:"Học là một quá trình gây mê không hồi sức?". Thật là hài hước! Khi chúng tôi hỏi tại sao lại có khái niệm kì quặc thế? Họ trả lời rằng: "Suốt thời sinh viên chúng tôi được thầy đọc cho chép, vào lớp thầy ru cho ngủ mệt muốn chết, lên cao học tưởng khác, ai ngờ cũng gặp toàn sư phụ năm xưa của mình, họ chuyển từ "đọc chép" sang "chiếu chép". Câu nói có hơi quá, song phản ánh phần nào thực trạng học, thi hiện nay.

Học chỉ mục đích để đối phó với thi cử, học máy móc góp phần thui chột sự sáng tạo tự nhiên của sinh viên. Xã hội chuộng bằng cấp nên tấm "giấy thông hành" này lên ngôi trở thành thước đo cho giá trị con người và cửa ngõ để được tiếp nhận việc làm. Vì vậy phải đạt điểm "tối đa" bằng mọi cách nhằm sau khi tốt nghiệp đi "tiếp thị" bản thân với cơ quan, doanh nghiệp là đủ còn việc học thì chẳng cần quan tâm đến sáng tạo, sáng chế, phát minh.
Chương trình phổ thông được dùng cho lựa chọn đại học. Hiện nay, các trường không thể tự chủ trong tuyển sinh đầu vào, điều này nhiều em vô học trái khoa, trái nhu cầu đào tạo nên hạn chế phần nào khả năng sáng tạo cho các em. Đơn cử như, khoa công nhệ thông tin thì cần tuyển toán, lý, tiếng Anh nhưng họ vẫn phải theo khối A .

Một điều cần nói thêm nữa rằng, lối học đại học hoàn toàn khác thời phổ thông, nội dung ngày càng nhiều và khó, không thể giải quyết mọi thứ trong phạm vi giờ học trên lớp nên các em phải tự học, tự tìm hiểu, nhiều em đã không thể bắt nhịp kịp dẫn đến hụt hẫng, chán nản, thiếu kiến thức. Những năm đầu sinh viên không thể học một cách sáng tạo và không thể có kết qủa học cao hơn được do sự lệch pha trên.

Chính sách của Nhà nước hiện cũng chưa kích thích được sự sáng tạo như: tài chính cho nghiên cứu khoa học của sinh viên không đủ để họ thực hiện đề tài, chưa coi trọng ý tưởng của sinh viên, thiếu thốn các phương tiệ nghiên cứu

(0) Bình luận
Nổi bật
Đừng bỏ lỡ
Hiện tượng học kém dần của học sinh, sinh viên
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO