TP.HCM sụt lún không đều
TP.HCM sụt lún không đồng đều và điều này có thể gây nứt vỡ đường ống hoặc các công trình hạ tầng ngầm.
Ngày 20/4, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP.HCM phối hợp với Nhóm nghiên cứu Quốc tế về sông MeKong (IMRWG) tổ chức hội thảo khoa học “Quan sát Trái đất và Trí tuệ địa không gian trong phát triển bền vững khu vực đô thị và Đồng bằng sông Cửu Long”.
Chương trình có sự tham gia của hơn 160 giảng viên, nhà khoa học, chuyên gia, nhà quản lý, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên trong nước và quốc tế.

Tại chương trình, PGS.TS Lê Hoàng Nghiêm – Phó Hiệu Trưởng Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP.HCM - cho biết hiện khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và các đô thị đang đối mặt với áp lực ngày càng lớn từ biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường và tốc độ đô thị hóa nhanh. Những thách thức này đòi hỏi không chỉ nền tảng khoa học vững chắc mà còn cần các giải pháp đổi mới, tích hợp.
Trong đó, công nghệ quan sát Trái đất và liên thông dữ liệu địa lý được đánh giá là công cụ quan trọng giúp theo dõi biến động môi trường, nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên và hỗ trợ ra quyết định dựa trên bằng chứng.
Nguyên nhân khiến TP.HCM sụt lún không đồng đều
Theo các chuyên gia, TP.HCM sụt lún không chỉ do yếu tố tự nhiên hay khai thác nước ngầm mà còn chịu tác động từ "tải trọng động" của hạ tầng đô thị. Các công trình lớn có thể làm gia tăng áp lực lên nền đất yếu, đẩy nhanh quá trình lún.

Theo TS Nghiêm Văn Sơn - nhà khoa học cao cấp thuộc NASA Jet Propulsion Laboratory, người chủ trì sáng lập IMRWG - cho biết sụt lún là hiện tượng phổ biến tại các vùng châu thổ, đặc biệt ở những đô thị phát triển trên nền đất yếu. Điều này sẽ gây ra các vấn đề đối với cơ sở hạ tầng.
Tại TP.HCM, mức độ sụt lún không đồng đều. Hiện có nơi lún nhiều, có nơi lún ít. TS Nghiêm dẫn chứng khu vực Phú Mỹ Hưng, dù các công trình được xây dựng trên nền móng sâu rất vững chắc nhưng phần đất xung quanh lại không đủ ổn định nên vẫn có thể bị lún.
“Nếu toàn bộ khu vực cùng lún một mức thì vấn đề có thể không quá nghiêm trọng. Nhưng khi một phần lún sâu hơn phần khác, nó có thể gây nứt vỡ đường ống hoặc các công trình hạ tầng ngầm”, TS Nghiêm chia sẻ.
TS Nghiêm Văn Sơn cho rằng TP.HCM là một siêu đô thị, với dân số đông và tốc độ xây dựng cao, tương tự như nhiều thành phố lớn khác trên thế giới như Los Angeles (Mỹ) hay Bangkok (Thái Lan). Những đô thị này cũng gặp tình trạng sụt lún do các nguyên nhân tương tự, như xây dựng trên nền đất yếu và khai thác nước ngầm. Theo TS Nghiêm, đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện tại các thành phố này và kết quả có thể áp dụng cho TP.HCM. Vì vậy, cách tiếp cận hiệu quả là học hỏi từ những kinh nghiệm đã có thay vì phải bắt đầu lại từ đầu.
TS Nghiêm nhấn mạnh sự hợp tác cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) và Tổ chức Nghiên cứu không gian Ấn Độ (ISRO) trước đó đã phóng vệ tinh quan sát Trái đất chung mang tên NISAR và đang chuẩn bị công bố dữ liệu.
Những dữ liệu này rất quan trọng vì có thể đo được mức độ sụt lún với độ chính xác chỉ vài milimet mỗi năm. Đây là mức thay đổi mà mắt thường không thể nhận ra.
“Chúng ta có thể ngồi và nhìn xung quanh nhưng không thể thấy được sự chênh lệch chỉ vài milimet. Trong khi đó, vệ tinh không chỉ đo được với độ chính xác cao mà còn cung cấp cái nhìn tổng thể, bao quát toàn bộ TP.HCM và khu vực xung quanh”, TS Nghiêm chia sẻ.
Giám sát từng điểm lún theo thời gian thực
PGS.TS Lê Trung Chơn - Viện trưởng Nghiên cứu Phát triển bền vững, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP.HCM - cho biết nhóm nghiên cứu đã ứng dụng công nghệ ảnh radar vệ tinh InSAR để theo dõi sụt lún tại khu vực phía Nam, đặc biệt là TP.HCM.

Điểm khác biệt của nghiên cứu nằm ở việc kết hợp hai kỹ thuật PS-InSAR và DS-InSAR. Nếu PS-InSAR chỉ theo dõi các điểm phản xạ ổn định thì DS-InSAR cho phép mở rộng vùng quan sát với mật độ điểm dữ liệu dày hơn, từ đó tái hiện chi tiết hơn bức tranh sụt lún và tạo nền tảng cho các mô hình dự báo.
Theo PGS.TS Lê Trung Chơn, từ dữ liệu vệ tinh, nhóm đã xây dựng bản đồ sụt lún cho nhiều địa phương như Trà Vinh, Cần Thơ, Long Xuyên, Cà Mau, Bạc Liêu và Sóc Trăng, trong đó một số khu vực được đánh giá là có mức độ sụt lún nghiêm trọng.
Tại TP.HCM, nghiên cứu này tiếp nối hơn 30 năm theo dõi sụt lún của các nhóm khoa học trong nước. Dữ liệu được thu thập từ nhiều nguồn vệ tinh như ALOS-PALSAR (trước năm 2011), COSMO-SkyMed và gần đây là Sentinel-1. Trong đó, Sentinel-1 trở thành nguồn dữ liệu chủ lực nhờ khả năng cung cấp miễn phí và liên tục.
Cũng theo PGS.TS Lê Trung Chơn, kết quả phân tích cho thấy độ chính xác của dữ liệu InSAR tương đồng cao với phương pháp đo cao truyền thống (thủy chuẩn). Điều này cho phép theo dõi biến động nền đất theo thời gian với độ tin cậy cao.
Không dừng lại ở quan sát, nhóm nghiên cứu còn phát triển mô hình dự báo sụt lún, tích hợp nhiều yếu tố như tải trọng công trình, giao thông (đường bộ, đường sắt), biến động sử dụng đất và khoảng cách đến sông. Một nền tảng trực tuyến cũng đã được xây dựng, cho phép truy cập đến từng điểm (pixel) để xem tốc độ sụt lún cụ thể.
Mô hình này mở ra khả năng “giám sát từng điểm lún” theo thời gian thực, một công cụ quan trọng để TP.HCM chủ động hơn trong quy hoạch và ứng phó với sụt lún đô thị.

