Sống xanh

Quy hoạch tổng thể TP.HCM: An ninh nguồn nước - Nền tảng phát triển đô thị

GS.TS Nguyễn Văn Phước - Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP.HCM 17/06/2026 - 05:37

Quy hoạch tổng thể TP.HCM không thể tiếp cận tư duy "quy hoạch phát triển rồi tìm giải pháp cấp nước", mà phải chuyển sang tư duy "an ninh nguồn nước là nền tảng để xác định quy mô dân số, cơ cấu kinh tế và không gian phát triển đô thị".

Việc hợp nhất không gian phát triển giữa TP.HCM, Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu đã tạo ra một siêu đô thị biển - công nghiệp - dịch vụ, với quy mô khoảng 6.772 km2, dân số dự kiến 20 - 22 triệu người vào năm 2050 và có thể đạt 25 - 30 triệu người trong tầm nhìn 100 năm. Đây sẽ là cực tăng trưởng kinh tế lớn nhất Việt Nam, trung tâm tài chính quốc tế, logistics cảng biển và đổi mới sáng tạo của khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, đi cùng với cơ hội là thách thức rất lớn về tài nguyên nước.

hinh-1-gs.ts-nguyen-van-phuoc-chu-tich-lien-hiep-cac-hoi-khoa-hoc-va-ky-thuat-tp.hcm.jpg
GS.TS Nguyễn Văn Phước - Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP.HCM.

Nếu trong thế kỷ 20, giao thông là yếu tố quyết định cấu trúc đô thị thì trong thế kỷ 21, đặc biệt dưới tác động của biến đổi khí hậu, nước sẽ trở thành yếu tố quyết định khả năng tồn tại và phát triển của các siêu đô thị.

Do đó, quy hoạch tổng thể TP.HCM mở rộng không thể tiếp cận theo tư duy truyền thống "quy hoạch phát triển rồi tìm giải pháp cấp nước", mà phải chuyển sang tư duy "an ninh nguồn nước là nền tảng để xác định quy mô dân số, cơ cấu kinh tế và không gian phát triển đô thị". Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với định hướng phát triển không gian gắn với hạ tầng xanh - hạ tầng nước và bảo vệ môi trường.

Bốn thách thức an ninh nguồn nước của TP.HCM

Thách thức đầu tiên là sự phụ thuộc ngày càng lớn vào nguồn nước liên vùng. Hiện nay, phần lớn nguồn nước cấp cho TP.HCM được khai thác từ hệ thống sông Đồng Nai - Sài Gòn với sự điều tiết của các hồ chứa lớn như Dầu Tiếng, Trị An, Phước Hòa, Sông Mây, Đá Đen và Sông Ray.

Điều này khiến an ninh nguồn nước của thành phố phụ thuộc đáng kể vào các địa phương thượng nguồn như Tây Ninh, Bình Phước và Đồng Nai.Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nhu cầu sử dụng nước gia tăng, nguy cơ cạnh tranh, thậm chí xung đột trong khai thác nguồn nước giữa các địa phương là thách thức cần được tính đến từ giai đoạn quy hoạch.

Thách thức thứ hai là tình trạng xâm nhập mặn ngày càng gia tăng tại các khu vực Nhà Bè, Cần Giờ, Hiệp Phước, Thị Vải và Soài Rạp. Theo các kịch bản biến đổi khí hậu, đến cuối thế kỷ 21, mực nước biển có thể tăng từ 0,75 - 1m, kéo theo hiện tượng triều cường xuất hiện thường xuyên hơn và rãnh mặn lấn sâu hơn vào đất liền. Điều này đe dọa trực tiếp các công trình khai thác nước thô của thành phố.

Thách thức thứ ba đến từ nhu cầu sử dụng nước ngày càng lớn của các khu công nghiệp và trung tâm logistics. Sau khi mở rộng không gian phát triển, các cực công nghiệp - logistics lớn như Cái Mép - Thị Vải, Phú Mỹ, Long Sơn, Hiệp Phước, Bến Cát, Bàu Bàng, Tân Uyên và Thủ Đức sẽ hình thành với quy mô lớn.Đây đều là những ngành sử dụng lượng nước rất cao. Nếu không được kiểm soát ngay từ quy hoạch, nhu cầu nước công nghiệp có thể vượt quá khả năng cung cấp của hệ thống nguồn hiện hữu.

Thách thức thứ tư là nguy cơ ô nhiễm nguồn nước mặt. Các hệ thống sông Sài Gòn, Đồng Nai, Thị Vải và Soài Rạp vừa là nguồn cấp nước sinh hoạt, vừa là nơi tiếp nhận nước thải đô thị và công nghiệp. Áp lực đô thị hóa, phát triển công nghiệp và cảng biển có thể làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm hữu cơ, vi nhựa, kim loại nặng, dầu mỡ và hóa chất độc hại, khiến chi phí xử lý nước ngày càng cao.

Ưu tiên bảo vệ nguồn nước

Biến đổi khí hậu và tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh, an ninh nguồn nước cần được xem là nền tảng của mọi quyết sách phát triển đô thị.

Trước hết, nước phải được nhìn nhận là tài nguyên chiến lược, có vai trò quyết định đến cấu trúc không gian đô thị. Mọi định hướng phát triển về dân số, công nghiệp, logistics hay mở rộng đô thị đều cần được tính toán dựa trên khả năng bảo đảm nguồn nước ổn định và lâu dài.

hinh-2-cong-nhan-lam-viec-tai-du-an-nha-may-xu-ly-nuoc-thai-binh-hung-tp.hcm..jpg
Công nhân làm việc tại dự án nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng, TP.HCM.

Bên cạnh đó, bảo vệ nguồn nước cần được ưu tiên hơn việc mở rộng khai thác. Thực tế cho thấy chi phí bảo vệ các nguồn nước tự nhiên thấp hơn rất nhiều so với chi phí xử lý nước bị ô nhiễm. Vì vậy, việc thiết lập các hành lang bảo vệ nghiêm ngặt đối với các dòng sông quan trọng như sông Sài Gòn, sông Đồng Nai, sông Thị Vải và Soài Rạp là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm an ninh nguồn nước cho toàn vùng.

Một định hướng quan trọng khác là chuyển từ mô hình khai thác nước truyền thống sang kinh tế tuần hoàn nước. Mục tiêu đến năm 2050, nước thải sau xử lý phải trở thành nguồn tài nguyên thứ cấp; tỷ lệ tái sử dụng nước đạt từ 40 - 50%; các khu công nghiệp sinh thái từng bước vận hành theo mô hình tuần hoàn nước nội bộ, giảm áp lực lên nguồn nước tự nhiên.

Song song đó, quy hoạch phát triển đô thị cần chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu. Việc mở rộng không gian đô thị phải hạn chế tại các khu vực ngập thấp, vùng có nguy cơ xâm nhập mặn, đồng thời giữ gìn các không gian trữ nước tự nhiên và bảo tồn hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ như một “lá chắn xanh” quan trọng của thành phố.

Hình thành mạng lưới hồ chứa chiến lược cho vùng TP.HCM

Để đáp ứng nhu cầu phát triểncủa siêu đô thị TP.HCM mở rộng trong nhiều thập niên tới, Thành phố cần xây dựng chiến lược an ninh nguồn nước theo hướng chủ động, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Trước hết, Thành phố cần hình thành mạng lưới hồ chứa nước chiến lược vùng TP.HCM. Theo đó, Thành phố nên xây dựng hệ thống hồ chứa liên hoàn gồm: Cụm Tây Bắc (Hồ Dầu Tiếng; Chuỗi hồ sinh thái Củ Chi); Cụm Đông Bắc (Hồ Trị An; Hồ Phước Hòa; Chuỗi hồ Bắc Tân Uyên - Phú Giáo); Cụm Đông Nam (Hồ Sông Ray; Hồ Đá Đen; Hồ Châu Đức); Cụm Nam Thành phố (Hồ điều hòa Nhà Bè; Hồ điều tiết Cần Giờ). Mạng lưới hồ chứa không chỉ bảo đảm nguồn nước sinh hoạt và sản xuất mà còn có vai trò điều hòa lũ, ngăn mặn và dự phòng trong các tình huống sự cố nguồn nước.

hinh-4-chuyen-vien-kiem-tra-he-thong-giam-sat-chat-luong-nuoc.jpg
Chuyên viên kiểm tra hệ thống giám sát chất lượng nước.

Song song đó, thành phố cần xây dựng hệ thống hành lang nước xanh quy mô vùng. Bốn trục không gian chiến lược được đề xuất gồm hành lang sông Sài Gòn, hành lang sông Đồng Nai, hành lang ven biển Đông Nam và hành lang biển đảo Cần Giờ - Côn Đảo. Đây không chỉ là các hành lang sinh thái mà còn đóng vai trò thoát lũ, thông gió và bảo vệ nguồn nước.

Về phát triển không gian đô thị, quy hoạch cần tuân thủ nguyên tắc “tránh vùng nhạy cảm”. Theo đó, các khu vực có điều kiện thuận lợi về địa hình và hạ tầng như Thủ Đức, Dĩ An, Thuận An, Bến Cát, Bàu Bàng và Củ Chi sẽ được ưu tiên phát triển. Trong khi đó, việc mở rộng đô thị xuống các vùng ngập thấp, vùng ven biển, vùng rừng ngập mặn.

Một định hướng quan trọng khác là chuyển đổi toàn bộ các khu công nghiệp sang mô hình sinh thái. Mục tiêu đến năm 2050 là 100% khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung, được giám sát bằng hệ thống quan trắc tự động, tái sử dụng nước sau xử lý và không bố trí các ngành có nguy cơ gây ô nhiễm cao tại khu vực thượng nguồn các lưu vực sông.

Cuối cùng, hạ tầng nước tái sử dụng cho đô thị tương lai. Các khu TOD - mô hình phát triển đô thị lấy hệ thống giao thông công cộng (như ga metro, đường sắt đô thị, BRT) làm trung tâm và đô thị mới bắt buộc triển khai hệ thống ống kép; tái sử dụng nước xám - nước từ vòi sen, bồn tắm, bồn rửa mặt, máy giặt, và bồn rửa bát... không bị nhiễm chất thải từ bồn cầu, ít vi trùng và chất rắn; nước tái sinh cho giải nhiệt; nước tái sinh cho tưới cây và vệ sinh đô thị. Đây là điều kiện tiên quyết để giảm áp lực khai thác nguồn nước tự nhiên.

Hướng tới thành phố thông minh về nước

Nếu muốn TP.HCM trở thành một trong những siêu đô thị đáng sống hàng đầu châu Á trong 100 năm tới, cần đặt mục tiêu: nước sạch uống tại vòi, 100% dân cư được sử dụng nước đạt tiêu chuẩn uống trực tiếp, thành phố tuần hoàn nước, tái sử dụng trên 60% lượng nước thải, thành phố chống chịu khí hậu, không phụ thuộc vào một nguồn cấp nước duy nhất, thành phố thông minh về nước. Toàn bộ nguồn nước được giám sát thời gian thực bằng: IoT (internet vạn vật); trí tuệ nhân tạo (AI); Digital Twin (Số hóa song sinh) ngành nước.

Đối với các khu vực ven biển như Cần Giờ, Nhà Bè, Thị Vải và Côn Đảo, định hướng phát triển cần gắn với mô hình “thành phố biển thích ứng”, dựa trên các giải pháp công nghệ tiên tiến như khử mặn nước biển, tái sử dụng nước và sử dụng năng lượng tái tạo.

Đối với TP.HCM mở rộng, an ninh nguồn nước không còn là một hợp phần kỹ thuật của ngành cấp thoát nước mà phải trở thành nền tảng của toàn bộ quy hoạch phát triển. Trong giai đoạn tới, thành phố cần chuyển từ tư duy "Phát triển kinh tế rồi tìm nguồn nước" sang tư duy "Quy hoạch phát triển trong giới hạn và khả năng bảo đảm an ninh nguồn nước".

Trên cơ sở đó, cấu trúc phát triển tương lai của TP.HCM mở rộng nên được xác lập theo mô hình: "Đô thị đa cực - công nghiệp sinh thái - logistics xanh - hành lang xanh nước - hồ chứa chiến lược - kinh tế tuần hoàn nước - thích ứng biến đổi khí hậu”. Đây sẽ là nền tảng để xây dựng TP.HCM trở thành một siêu đô thị biển, trung tâm kinh tế quốc tế, đồng thời bảo đảm an ninh nước, an ninh môi trường và chất lượng sống bền vững cho nhiều thế hệ trong 100 năm tới.

(0) Bình luận
Nổi bật
Đừng bỏ lỡ
Quy hoạch tổng thể TP.HCM: An ninh nguồn nước - Nền tảng phát triển đô thị
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO