Đô thị

An ninh nước: Kiểm soát ô nhiễm thượng lưu đến bảo tồn hệ sinh thái hạ lưu

Võ Liên (Thực hiện) 18/02/2026 08:52

Theo GS.TS Nguyễn Văn Phước, công nghệ xử lý nước chỉ là rào chắn cuối cùng, an ninh nước phải bắt đầu từ thượng nguồn thông qua việc kiểm soát ô nhiễm lưu vực và bảo tồn hệ sinh thái vùng hạ lưu, đặc biệt khu vực Cần Giờ (TP.HCM).

Trao đổi với phóng viên Tạp chí Khoa học phổ thông - Sống Xanh, GS.TS Nguyễn Văn Phước, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP.HCM, Chủ tịch Hội Nước và Môi trường TP.HCM, đã phân tích vai trò của công nghệ xử lý nước cũng như trách nhiệm của doanh nghiệp trong giai đoạn phát triển mới của Thành phố.

hinh-1-gsts-nguyen-van-phuoc.jpg
GS.TS Nguyễn Văn Phước - Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP.HCM, Chủ tịch Hội Nước và Môi trường TP.HCM.

Nước trở thành yếu tố quyết định an ninh đô thị

Phóng viên: Thưa GS, trong bối cảnh đô thị hóa nhanh, biến đổi khí hậu và áp lực dân số hơn 14 triệu người sau hợp nhất TP.HCM, Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, ông nhìn nhận vai trò của tài nguyên nước đối với TP.HCM hiện nay như thế nào?

GS.TS Nguyễn Văn Phước: Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh, biến đổi khí hậu và áp lực dân số quy mô trên 14 triệu người, tài nguyên nước đối với TP.HCM không chỉ là yếu tố hạ tầng thiết yếu, mà đã trở thành một trụ cột an ninh đô thị, nền tảng ổn định xã hội và điều kiện tiên quyết cho mô hình tăng trưởng xanh, số và bền vững của Thành phố trong dài hạn.

hinh-4-song-sai-gon.jpg
Hệ thống cấp nước sinh hoạt của TP.HCM chủ yếu khai thác nước mặt từ hệ thống sông liên vùng, đặc biệt là Sông Sài Gòn - Đồng Nai.

TP.HCM hiện nay phụ thuộc chủ yếu vào hệ thống sông liên vùng, đặc biệt là Sông Sài Gòn - Đồng Nai. Khi không gian đô thị mở rộng và liên thông với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, rủi ro về nước không còn mang tính cục bộ mà trở thành rủi ro hệ thống vùng. Nguồn nước không tăng, trong khi nhu cầu sinh hoạt - công nghiệp - dịch vụ - logistics - du lịch tăng đột biến. Chất lượng nguồn nước suy giảm do xung đột sử dụng nước thượng - hạ lưu, gia tăng tải lượng ô nhiễm. Phụ thuộc lớn vào nước mặt liên tỉnh khiến TP.HCM dễ tổn thương trước biến động khí hậu, vận hành hồ chứa và phát triển công nghiệp phía thượng nguồn.

Do đó, nước trở thành yếu tố quyết định an ninh đô thị, tương đương an ninh năng lượng hay an ninh lương thực.

Hiện nay, những công nghệ xử lý và lọc nước ở TP.HCM theo ông như thế nào?

Hiện nay, hệ thống cấp nước sinh hoạt của TP.HCM chủ yếu khai thác nước mặt từ hệ thống sông liên vùng, đặc biệt là Sông Sài Gòn - Đồng Nai. Đây là nguồn nước có trữ lượng lớn, nhưng chịu áp lực ngày càng cao từ đô thị hóa, công nghiệp hóa và biến đổi khí hậu.

hinh-2-ky-su-lam-viec-tai-nha-may-xu-ly-nuoc-thai-binh-hung.jpg
Kỹ sư làm việc tại nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng (TP.HCM).

Có thể khẳng định rằng, công nghệ hiện nay bảo đảm cung cấp nước đạt quy chuẩn cho sinh hoạt, vận hành ổn định, chi phí hợp lý và phù hợp với điều kiện kinh tế, kỹ thuật của Thành phố trong nhiều năm qua.

Tuy nhiên, điểm hạn chế cốt lõi là các công nghệ này được thiết kế cho nguồn nước có mức ô nhiễm truyền thống, trong khi hiện nay nguồn nước sông đang xuất hiện ô nhiễm phức hợp hơn, bao gồm vi ô nhiễm hữu cơ, dư lượng hóa chất, nguy cơ xâm nhập mặn và biến động chất lượng nước theo mùa do biến đổi khí hậu. Trong bối cảnh đó, dư địa an toàn của công nghệ truyền thống ngày càng bị thu hẹp.

So với các đô thị tiên tiến trong khu vực như Singapore, Tokyo hay Seoul, TP.HCM cần triển khai các công nghệ xử lý bậc cao như màng lọc, ozone, than hoạt tính sinh học hay xử lý nâng cao để tăng khả năng chống chịu rủi ro nguồn nước; để chuyển mạnh từ “xử lý đạt chuẩn” sang “xử lý bảo đảm an ninh nước dài hạn”.

Nước thông minh - Điều kiện để TP.HCM chuyển sang mô hình tăng trưởng xanh

Việc triển khai hệ thống khai thác, phân phối, giám sát nước thông minh đang được nhiều địa phương áp dụng. Theo ông, điều này có ý nghĩa như thế nào đối với một siêu đô thị như TP.HCM?

Đối với một siêu đô thị quy mô trên 14 triệu dân, mật độ cao và chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu như TP.HCM, hệ thống nước thông minh không còn là một lựa chọn công nghệ, mà là điều kiện nền tảng bắt buộc để bảo đảm an ninh nước.

Trước hết, nước thông minh giúp chuyển đổi phương thức quản lý từ phản ứng sự cố sang quản lý rủi ro chủ động. TP.HCM phụ thuộc lớn vào nguồn nước sông liên vùng vốn biến động mạnh theo mùa và vận hành thượng nguồn. Hệ thống giám sát thông minh cho phép theo dõi chất lượng và lưu lượng theo thời gian thực, cảnh báo sớm các nguy cơ ô nhiễm hay xâm nhập mặn, giúp Thành phố chủ động điều hành thay vì xử lý bị động.

hinh-3-nha-may-xu-ly-nuoc.jpg
Dự án nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng (TP.HCM) có công suất xử lý nước thải lên 469.000m3/ngày đêm, lớn nhất Việt Nam đến hiện tại.

Tiếp theo, nước thông minh là chìa khóa để nâng cao hiệu quả phân phối và giảm thất thoát. Với mạng lưới cấp nước phức tạp, thất thoát không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà là sự lãng phí tài nguyên chiến lược. Ứng dụng cảm biến, dữ liệu lớn (Big Data) và điều khiển thông minh giúp xác định chính xác điểm rò rỉ, tối ưu áp lực mạng lưới, từ đó tiết kiệm nước và năng lượng.

Hơn nữa, hệ thống nước thông minh là nền tảng cho quản trị đô thị hiện đại và minh bạch. Dữ liệu nước khi được số hóa và chia sẻ sẽ liên thông với quy hoạch đô thị, phòng chống ngập, y tế, giúp chính quyền ra quyết định chính xác và người dân tiếp cận thông tin minh bạch hơn.

Cuối cùng, nước thông minh là điều kiện tiên quyết để TP.HCM chuyển sang mô hình tăng trưởng xanh và bền vững. Hệ thống này cho phép tối ưu khai thác, sử dụng tiết kiệm và tái sử dụng nguồn nước, phù hợp với định hướng chuyển đổi số mà Thành phố đang theo đuổi.

Theo GS, đâu là công nghệ then chốt mà TP.HCM cần ưu tiên trong thời gian tới để bảo đảm an ninh nước?

Để kiểm soát tốt cả về lượng và chất của nguồn nước, TP.HCM cần ưu tiên 5 nhóm công nghệ then chốt.

Đầu tiên là nhóm công nghệ xử lý nước bậc cao nhằm tăng "độ an toàn" cho chất lượng nước. Đây là nâng cấp bắt buộc so với công nghệ truyền thống, bao gồm sử dụng Ozone - than hoạt tính sinh học để xử lý vi ô nhiễm, mùi vị, chất hữu cơ khó phân hủy; và áp dụng công nghệ màng (UF/NF/RO) ở mức độ phù hợp để loại bỏ vi khuẩn, virus, kim loại nặng và độ mặn.

Nhóm thứ hai và thứ ba tập trung vào việc bảo đảm đủ nguồn, bao gồm công nghệ đa dạng hóa nguồn nước và đặc biệt là công nghệ tái sử dụng nước để chuyển từ tư duy "xả thải" sang "tuần hoàn". Tái sử dụng nước sau xử lý cho các mục đích như tưới cây, rửa đường, làm mát hay công nghiệp là hướng đi chiến lược, bởi mỗi mét khối nước tái sử dụng chính là một mét khối nước sạch được tiết kiệm cho sinh hoạt.

Nhóm thứ tư là công nghệ quản lý, phân phối và giám sát nước thông minh. Đây được xem là "hạ tầng mềm" quyết định hiệu quả toàn hệ thống với các cảm biến thời gian thực, SCADA, IoT giúp cảnh báo sớm sự cố. Nếu không có dữ liệu thời gian thực, việc quản trị an ninh nước của một siêu đô thị là bất khả thi.

Cuối cùng là nhóm công nghệ bảo vệ nguồn nước và vùng sinh thái đệm. An ninh nước phải bắt đầu từ thượng nguồn thông qua việc kiểm soát ô nhiễm lưu vực và bảo tồn hệ sinh thái vùng hạ lưu, đặc biệt là khu vực Cần Giờ. Chúng ta cần nhớ rằng công nghệ xử lý chỉ là "hàng rào cuối", còn bảo vệ nguồn mới là giải pháp gốc rễ.

Cần bảo đảm an ninh nước thông qua việc tái sử dụng nước

Đối với doanh nghiệp, đặc biệt là các khu công nghiệp cần có trách nhiệm như thế nào trong vấn đề xử lý nước thải và bảo vệ môi trường nước?

Doanh nghiệp và các khu công nghiệp phải được xác định là chủ thể chịu trách nhiệm trực tiếp đối với an ninh tài nguyên nước của Thành phố chứ không chỉ là đối tượng bị quản lý.

Doanh nghiệp và khu công nghiệp phải là tuyến phòng thủ đầu tiên bảo vệ môi trường nước, thông qua xử lý nước thải nghiêm túc, giảm thiểu tại nguồn, tái sử dụng nước và minh bạch dữ liệu. Chỉ khi khu vực sản xuất thực hiện đầy đủ trách nhiệm này, TP.HCM mới có thể bảo đảm an ninh nước và phát triển bền vững trong dài hạn.

GS.TS Nguyễn Văn Phước - Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP.HCM, Chủ tịch Hội Nước và Môi trường TP.HCM.

Trách nhiệm nền tảng và bắt buộc đầu tiên là xử lý nước thải đạt và duy trì ổn định quy chuẩn môi trường trong mọi điều kiện, kể cả khi tải cao hay có sự cố. Các khu công nghiệp phải đầu tư hệ thống xử lý tập trung đồng bộ, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng "xả đạt lúc kiểm tra, không đạt lúc vận hành". Kế đến, doanh nghiệp phải chuyển từ tư duy tuân thủ sang tư duy phòng ngừa và giảm thiểu tại nguồn.

Trong bối cảnh áp lực tài nguyên ngày càng lớn, doanh nghiệp còn có trách nhiệm tham gia trực tiếp vào bảo đảm an ninh nước thông qua việc tái sử dụng nước sau xử lý cho các mục đích phi sinh hoạt như làm mát, tưới cây hay hạ tầng xanh. Đây vừa là yêu cầu môi trường, vừa là lợi ích kinh tế dài hạn. Ngoài ra, sự minh bạch và giám sát là trách nhiệm không thể thiếu. Các đơn vị xả thải lớn phải đầu tư quan trắc tự động và truyền dữ liệu liên tục, coi dữ liệu môi trường là một phần của quản trị doanh nghiệp.

Cuối cùng, cần nhận thức rằng bảo vệ môi trường nước là điều kiện để phát triển bền vững và duy trì "giấy phép xã hội". Một khu công nghiệp gây ô nhiễm sẽ không thể tồn tại lâu dài trong một TP.HCM đang hướng tới tăng trưởng xanh.

Xin cảm ơn GS.TS Nguyễn Văn Phước!

(0) Bình luận
Nổi bật
Đừng bỏ lỡ
An ninh nước: Kiểm soát ô nhiễm thượng lưu đến bảo tồn hệ sinh thái hạ lưu
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO