(KHPTO) Ngất (bất tỉnh, xỉu...): là một tình trạng mất ý thức thoáng qua do giảm tưới máu toàn bộ não thoáng qua đặc trưng bởi các đặc điểm : khởi phát nhanh, cơn ngắn và tự hồi phục hoàn toàn (định nghĩa của ESC 2009). Bằng định nghĩa mới, ESC đã làm tối thiểu hoá những lầm lẫn trong quan niệm và chẩn đoán ngất trước đây : định nghĩa này đã loại trừ những nguyên nhân khác như : té ngã, hôn mê, đột tử… Ngoài ra một vài tình trạng giống ngất khác mặc dù có mất ý thức thật sự nhưng không do cơ chế giảm tưới máu não toàn bộ như : động kinh, rối loạn chuyển hoá (hypoxia, hạ đường máu), ngộ độc, thiếu máu não thoáng qua ( do nguồn gốc động mạch cảnh, động mạch thân nền) cũng không được xếp vào chẩn đoán ngất. Vì vậy, chẩn đoán phân biệt với ngất là rất quan trọng trước những trường hợp mất ý thức đột ngột.
Tại Hoa Kỳ, hàng năm có khoảng 1-2 triệu người bị ngất (tỉ lệ 3% dân số), chiếm khoảng 1% số bệnh nhân nhập viện và khoảng 3%-5% số bệnh nhân nhập khoa cấp cứu. Nguyên nhân thường gặp nhất là ngất có nguồn gốc phó giao cảm ( vasovagal syncope), chiếm khoảng 20-40% các trường hợp ngất. Khoảng 30% các trường hợp ngất không tìm thấy nguyên nhân. Những bệnh nhân ngất không rõ nguyên nhân có tỉ suất tử vong sau 1 năm là 6% và tần suất đột tử là 4%, và những bệnh nhân bị ngất do nguyên nhân tim thì có tỉ suất tử vong sau 1 năm là 18-33% và tần suất đột tử là 24%.
NGUYÊN NHÂN:
Ngất do phản xạ (reflex syncope, neutrally- mediated sycope):
1. Ngất phó giao cảm: Ngất phó giao cảm là nguyên nhân thường gặp nhất, chiếm khoảng 20-40% trường hợp ngất và là nguyên nhân lành tính. Ngất phó giao cảm được xếp vào nhóm ngất do phản xạ (qua trung gian thần kinh) bao gồm cả ngất do hội chứng xoang cảnh và ngất tình huống (sau tiểu, đi cầu, nuốt, ho…)
- Hoàn cảnh xảy ra cơn ngất: đứng lâu, vận động trong một môi trường nóng bức, sợ hãi, xúc cảm, đứng dậy đột ngột khi thức dậy.
- Tiền triệu kéo dài vài giây hoặc vài phút: cảm giác yếu, nhẹ đầu, ù tai, mờ mắt, choáng váng, nhìn mờ, nhức đầu, buồn nôn, vã mồ hôi, cảm giác lạnh. Nếu cơn ngất xãy ra khi có người thân chứng kiến sẽ thấy người bệnh xanh tái, ngáp, giãn đồng tử, hốt hoảng, nhịp tim nhanh. Nếu không có hoặc tiền triệu xãy ra ngắn, ngất có thể gây chấn thương do té ngã.
- Ngã xuống và ngất, thường nhanh chóng hồi phục tri giác trong vài giây, nhưng nếu kéo dài có thể co giật do thiếu oxy, rối loạn cơ vòng (tiêu tiểu không tự chủ). Nếu có tiền triệu và người bệnh đã có kinh nghiệm trãi qua cơn ngất thì người bệnh sẽ kịp ngồi hoặc nằm xuống nên không bị chấn thương do ngã xuống.
2. Ngất tình huống: thường xãy ra sau một cơn ho kéo dài, nhảy mũi hoặc sau một kích thích dạ dày ruột : nuốt, đại tiện, đau bụng. Ngất còn có thể xãy ra sau tiểu tiện, sau gắng sức, sau ăn, sau cười. sau nâng vật nặng…
3. Hội chứng xoang cảnh: do tăng nhạy cảm xoang cảnh, thường gặp khi xoay đầu đột ngột ở người mặc áo có cổ áo cao và chật gây chèn ép vào xoang cảnh.
Ngất do hạ huyết áp tư thế:
- Do suy hệ thần kinh tự động tiên phát:
- Do suy hệ thần kinh tự động thứ phát: tiểu đường, amyloidosis, ure huyết cao
- Do thuốc: rượu, thuốc giãn mạch, lợi tiểu, phenothiazine, chống trầm cãm.
- Do giãm thể tích : xuất huyết, tiêu chãy, ói mữa…
Ngất do nguyên nhân tim mạch:
1. Loạn nhịp:
- Nhịp chậm: suy nút xoang, block nhĩ thất, bất thường máy tạo nhịp tim…
- Nhịp nhanh : trên thất, nhanh thất.
- Thuốc gây rối loạn nhịp.
2. Bệnh cấu trúc:
Bệnh tim : bệnh van tim, NMCT/Thiếu máu cơ tim, bệnh cơ tim phì đại, u( u nhày nhĩ trái, bướu tim), bệnh màng ngoài tim/chèn ép tim cấp, bất thường bẩm sinh động mạch vành, bất thường van nhân tạo
Nguyên nhân khác : thuyên tắc phổi, bóc tách động mạch chủ cấp, tăng áp phổi.
TẠI SAO BẠN NÊN ĐẾN KHÁM BÁC SỸ:
- Ngất có nguy hiểm không?Ngất có thể lành tính hoặc có thể là dấu hiệu báo động trước khi xãy ra đột tử. Ngay cả khi nguyên nhân ngất là lành tính, nếu cơn tái phát nhiều lần có thể gây chấn thương, gây lo lắng, giảm chất lượng cuộc sống, tâm lý “ tàn phế” cho bản thân người bệnh và gia đình.
Tại bệnh viện, bạn sẽ được bác sỹ hỏi kỹ về bệnh sử, hoàn cảnh xãy ra cơn ngất, tiền sử bệnh của bản thân và gia đình, khám thực thể và được chỉ định các xét nghiệm cần thiết để chẩn đoán bệnh cũng như các biện pháp điều trị cần thiết.
- Các triệu chứng gợi ý nguy cơ biến chứng tim mạch và đột tử:
- Ngất khi gắng sức hay lúc nằm
- Hồi hộp lúc ngất.
- Tiền sử gia đình có người đột tử.
- Có tiền sử rối loạn nhịp tim hay bất thường trên điện tâm đồ.
CÁC NGHIỆM PHÁP CHẨN ĐOÁN:
Tùy theo kết quả hỏi bệnh và khám thực thể mà bác sỹ của bạn sẽ chỉ định các nghiệm pháp cần thực hiện:
- Đo huyết áp tư thế
- Đo điện tim
- Siêu âm tim : chẩn đoán bệnh tim thực thể
- Siêu âm hệ động mạch cảnh và động mạch cột sống thân nền.
- Holter điện tim : bệnh nhân sẽ được mang máy theo dỏi nhịp tim trong 24-48 giờ.
- Nghiệm pháp bàn nghiêng (Head-up tilt table test) là một nghiệm pháp để chẩn đoán ngất do phó giao cảm (ngất qua trung gian thần kinh tim)
- Điện sinh lý : nếu nghi ngờ loạn nhịp là nguyên nhân của ngất
- Điện tim gắng sức, chụp mạch vành.
ĐIỀU TRỊ:
Ngất do phó giao cảm (ngất qua trung gian thần kinh tim):
- Xảy ra nhiều và không tiền triệu: điều trị đặc hiệu bằng thuốc hay được hướng dẫn các phương pháp không dùng thuốc.
- Xảy ra lần đầu, có tiền triệu: giáo dục bệnh nhân, tránh yếu tố khởi kích.
Ngất do tim:
- Loạn nhịp: điều trị loạn nhịp
- Điều trị bệnh tim thực thể
Ngất không tìm được nguyên nhân và nguy cơ đột tử cao: bệnh mạch vành, bệnh cơ tim giãn, bệnh cơ tim phì đại, bệnh cơ tim thất phải sinh loạn nhịp, bệnh kênh ion (QT dài, Brugada..): xem xét chỉ định đặt máy phá rung tim (ICD).

