Nông nghiệp hữu cơ: Giữ dinh dưỡng bền vững cho đất

Sống xanh - Ngày đăng : 18:55, 12/02/2023

Nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp hướng hữu cơ là vấn đề quan tâm của toàn thế giới, không chỉ với Việt Nam. Chúng ta có nhiều mục tiêu, nhưng cần nhắm đến các mục tiêu chủ yếu, giữ nông sản an toàn cho toàn dân, và đem lại lợi ích kinh tế hàng chục ngàn tỷ.

Chúng ta đã đạt được nhiều kết quả trong lĩnh vực nông nghiệp ở quy mô nhỏ; trong tương lai, nông nghiệp Việt Nam tiếp tục áp dụng ở quy mô lớn với các thiết bị cơ khí có thể được chế tạo trong nước. 

Nông nghiệp hữu cơ chiếm 0,5 - 1% so với toàn cảnh nông nghiệp Việt Nam

Trước hết, cần phân biệt nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp hướng hữu cơ. Nông sản trồng trọt hữu cơ không dùng phân hóa học và thuốc hóa học; đòi hỏi điều kiện nghiêm ngặt về đất, nguồn nước (không bị ô nhiễm, xa khu dân cư và khu vực sản xuất thông thường…);  cần chứng chỉ do các cơ quan quốc tế có thẩm quyền cấp. 

Sản xuất lúa hướng hữu cơ có giảm phân và thuốc hóa học, theo quy trình “sạch”, ví dụ ngưng phun thuốc một thời gian trước khi thu hoạch, dùng hơn 50% dưỡng chất từ phân hữu cơ... Với cùng một giống, nông sản hướng hữu cơ cũng được chấp nhận khi xuất qua các thị trường cao cấp như Nhật, Âu châu..., nhưng với giá thấp hơn so với nông sản hữu cơ. 

Theo tài liệu trong Hội nghị sơ kết 3 năm triển khai Nghị định số 109/2018/NĐ-CP của Chính phủ về Nông nghiệp Hữu cơ mới đây, thời gian 2017 - 2021 diện tích trồng trọt hữu cơ dao động trong khoảng 63.000-150.000 ha, liên quan đến gần 20.000 hộ, giá trị hợp đồng từ 2 đến 6 triệu USD. Xét bất cứ chỉ tiêu nào, nông nghiệp hữu cơ chỉ chiếm 0,5 - 1% so với toàn cảnh nông nghiệp Việt Nam.  Ví dụ sản lượng hồ tiêu hữu cơ khoảng 1.000 tấn (chủ yếu xuất khẩu) so với tổng sản lượng trồng tiêu là hơn 250.000 tấn.

Làm sao tăng được tỷ lệ nông nghiệp hữu cơ?

Gặp một vấn đề cần có cách giải quyết, chúng ta thường xem xét 3 yếu tố:  thị trường, kỹ thuật, và vốn. 

Thị trường

Đây là yếu tố quyết định. Bán cho ai, số lượng bao nhiêu, chất lượng yêu cầu thế nào, với giá như thế nào... là những câu hỏi cần được giải đáp, dù chi tiết hay sơ lược.

a) Thị trường trong nước với sản phẩm hữu cơ còn hạn chế, do thu nhập bình quân còn thấp. Người dân quan tâm hơn đến nông sản sạch, an toàn, nghĩa là canh tác theo hướng hữu cơ, VietGap…

b) Thị trường nước ngoài cũng có, với các mức độ khác nhau với các sản phẩm khác nhau;  cần nhiều khảo sát chi tiết hơn. Thế nhưng hầu hết tỉnh/thành rất ít đề cập đến thị trường, chỉ nêu diện tích và sản lượng hữu cơ...

Kỹ thuật

Để sản xuất các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ, kỹ thuật khá phức tạp với nhiều sản phẩm khác nhau. Nhưng điểm chung là phải biết được kết quả về chất lượng sản phẩm và giá thành sản xuất, trong đó có chi phí lao động. Tuy nhiên, chưa có nhiều đánh giá về giá thành sản xuất so với cách thông thường. 

Vốn

Đây là yếu tố có lẽ ít quan trọng, một khi đã biết được thị trường, và lời lỗ trong kinh doanh; các ngân hàng dễ cho vay khi nắm được các chi tiết này.

Dĩ nhiên còn nhiều yếu tố xã hội và môi trường tác động đến nông nghiệp hữu cơ.

Chức năng của chất hữu cơ trong sản xuất

Như phân tích trên, nông sản hữu cơ được bán với giá cao hơn, nhất là với thị trường xuất khẩu. Nông sản hướng hữu cơ được trong nước mong chờ để có sản phẩm sạch và an toàn.

Chức năng cũng rất quan trọng của chất hữu cơ là bảo vệ đất đai. Thử hỏi tại sao Việt Nam xuất khẩu gạo đạt hàng tỷ USD, nhưng nhập khẩu bắp và đậu nành cho chăn nuôi gà, heo, cá... cũng với hàng tỷ USD? Vì giá thành sản xuất bắp/đậu nành cao hơn thế giới (trong khi giá sản xuất lúa gạo Việt Nam thấp hơn trung bình của thế giới). 

Giá thành cao vì năng suất thấp - xét đại trà, không tính năng suất thí nghiệm trên các lô đất nhỏ. Năng suất thấp vì đất đai ở các vùng cây trồng cạn như Đông Nam Bộ, Tây Nguyên… bị rửa trôi hết các dưỡng chất với địa hình hơi dốc và mưa lớn. Ví von như thức ăn trôi khỏi miệng đứa trẻ, sao nó lớn nổi!

Vì vậy để dưỡng chất ở lại với đất, có hai giải pháp. Một là tạo các thửa ruộng ít dốc hơn, bậc thang theo đường đồng mức. Hai là dùng chất hữu cơ để giữ các nguyên tố N-P-K… của phân vô cơ bám vào. Mùn hữu cơ cũng giữ được nhiều nước cho đất và giúp cây trồng chịu hạn tốt hơn.

Nông nghiệp hướng hữu cơ và bồi dưỡng hữu cơ cho nông nghiệp, từ đó bảo vệ đất đai, giữ dinh dưỡng bền vững cho cây trồng.

Kết quả, nhờ “ăn uống đầy đủ” cây trồng đạt năng suất cao với chi phí sản xuất thấp hơn. Tầm nhìn giảm nhập khẩu hàng tỷ USD bắp - đậu không phải là viển vông;  quy mô lớn hơn rất nhiều so với xuất khẩu chỉ vài trăm ngàn USD nông sản hữu cơ. 

Phát triển các sản phẩm nông sản hữu cơ

Với nông sản hữu cơ, cần tiếp tục với các thị trường xuất khẩu đã có, và từng bước mở rộng thêm. Tiêu biểu là các sản phẩm cao giá như hồ tiêu, quế, hồi…  Giải pháp này tuy chiếm tỷ trọng không lớn trong nông nghiệp Việt Nam, nhưng cũng góp phần cho xuất khẩu. 

Giải pháp chủ lực vẫn là nông nghiệp hướng hữu cơ và bồi dưỡng hữu cơ cho nông nghiệp. Từ đó nhắm mục tiêu bảo vệ đất đai, giữ dinh dưỡng bền vững cho cây trồng để đạt năng suất cao, đặc biệt với cây trồng cạn như bắp, đậu nành, đậu phộng… ở miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên; chờ rừng trồng mới thay thế được cho rừng bị chặt phá, cũng mất vài chục năm để có đủ hữu cơ như xưa. 

Nông nghiệp hướng hữu cơ và bồi dưỡng hữu cơ cho nông nghiệp. Nhắm mục tiêu bảo vệ đất đai, giữ dinh dưỡng bền vững cho cây trồng để đạt năng suất cao

Vậy phải chủ động sản xuất phân hữu cơ với số lượng lớn, cỡ hơn chục tấn cho mỗi hecta (không phải vài kg cho chậu hoa lan, với giá bán mắc hơn giá lúa...).  Nguồn phân ủ hữu cơ rất dồi dào, là từ hỗn hợp các dư thừa thực vật (rơm lúa, thân bắp, lá cây…) và chất thải chăn nuôi.

Muốn sản xuất lớn quy mô hàng trăm tấn phân hữu cơ mỗi ngày, cần vài loại thiết bị cơ khí; bao gồm: Máy thu gom và cuốn rơm lúa; máy thu gom và ép bành các dư thừa cây trồng khác (thân bắp, lá mía...); máy băm nhỏ các nguyên liệu trên; máy trộn hỗn hợp dư thừa thực vật và phân gia súc; máy nâng chuyển và bón rãi phân hữu cơ ngoài đồng.   

Tất cả các máy trên đều nằm trong khả năng thiết kế và chế tạo trong nước. Thực tế đã có nhiều máy móc, thiết bị đã được thương mại hóa, từ vài chiếc đến vài ngàn chiếc.