Tín chỉ carbon rừng chỉ được giao dịch qua sàn và hợp đồng, xuất khẩu tối đa 50%
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 180/2026/NĐ-CP quy định chi tiết về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng. Theo đó, từ ngày 1/7, mọi hoạt động trao đổi, mua bán kết quả giảm phát thải và tín chỉ carbon rừng bắt buộc phải thực hiện thông qua hợp đồng thương mại hoặc qua sàn giao dịch tập trung, đồng thời khống chế tỷ lệ trần chuyển nhượng ra quốc tế đối với lĩnh vực lâm nghiệp ở mức tối đa 50%.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng vừa thay mặt Chính phủ ký ban hành Nghị định số 180/2026/NĐ-CP Quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng. Đây được xem là hành lang pháp lý mang tính bước ngoặt, đặt nền móng quản lý chặt chẽ và minh bạch hóa thị trường tín chỉ carbon rừng – một nguồn tài nguyên xanh có tiềm năng kinh tế cực kỳ lớn của Việt Nam.
Siết chặt phương thức giao dịch, chấm dứt mua bán tự phát
Theo nội dung Nghị định mới, các cá nhân, tổ chức nắm giữ tín chỉ carbon rừng không được phép thực hiện giao dịch tự phát hoặc chuyển nhượng trao tay thiếu kiểm soát. Tất cả kết quả giảm phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon từ rừng chỉ được phép mua bán thông qua hai hình thức: ký kết hợp đồng trao đổi chuyển nhượng chính thức hoặc giao dịch trực tiếp trên sàn giao dịch carbon công khai.
Đặc biệt, cơ chế kiểm soát tối cao thuộc về cơ quan quản lý. Mọi giao dịch, trước khi tiến hành chuyển nhượng, đều phải có sự xác nhận từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hoặc cơ quan có thẩm quyền để đảm bảo tính hợp pháp. Nghị định quy định rõ: khi kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng đã được trao đổi, chuyển nhượng theo hợp đồng hoặc trên sàn giao dịch, bên cung ứng tuyệt đối không được phép tiếp tục bán hay chuyển nhượng cho bất kỳ bên thứ ba nào khác nhằm tránh trục lợi và "bán trùng".

Phân định rõ quyền sở hữu và thẩm quyền phê duyệt
Nghị định 180/2026/NĐ-CP tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ rừng tham gia thị trường bằng cách phân định rõ ràng quyền sở hữu. Cụ thể, chủ rừng được sở hữu hoàn toàn kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon tạo ra từ các dự án do chính họ thực hiện. Họ có quyền chủ động hợp tác, liên kết với tổ chức, cá nhân để thực hiện dự án; tự xây dựng, đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV) để đề nghị cấp tín chỉ.
Đối với diện tích rừng thuộc sở hữu toàn dân, cơ chế đại diện chủ sở hữu được phân cấp cụ thể: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là đại diện chủ sở hữu đối với các tín chỉ được tạo ra từ dự án carbon rừng do các cơ quan chuyên môn thuộc Bộ thực hiện; UBND cấp tỉnh là đại diện chủ sở hữu đối với nguồn tín chỉ tạo ra từ các dự án do cơ quan chuyên môn cấp tỉnh thực hiện.
Bộ chuyên ngành cũng chịu trách nhiệm phân bổ mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính từ rừng cho từng tỉnh, thành phố, đồng thời xác nhận số lượng được phép bán căn cứ trên lượng tín chỉ đã cấp. Thẩm quyền cấp tín chỉ carbon rừng sẽ do UBND cấp tỉnh hoặc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phê duyệt.
Khống chế trần xuất khẩu quốc tế ở mức 50%
Một trong những điểm đáng chú ý nhất trong chính sách mới là việc điều tiết dòng chảy tín chỉ ra thị trường quốc tế nhằm đảm bảo cam kết giảm phát thải quốc gia (NDC) của Việt Nam. Việc chuyển nhượng tín chỉ carbon rừng ra nước ngoài phải tuân thủ quy định tại Nghị định số 112 về trao đổi quốc tế kết quả giảm phát thải.
Theo đó, Chính phủ áp dụng tỷ lệ trần đối với kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon bán ra quốc tế cho 47 lĩnh vực. Trong khi các lĩnh vực chuyển đổi sâu như chuyển đổi xe điện, trạm sạc, điện gió ngoài khơi, thu giữ CO2 từ không khí được phép bán tới 90% ra nước ngoài, thì lĩnh vực điện sinh khối và các loại rừng bị khống chế ở mức tối đa 50%. Tỷ lệ còn lại bắt buộc phải giữ lại trong nước để thực hiện các cam kết giảm phát thải quốc gia.

Ưu tiên nguồn thu cho giữ rừng và sinh kế người dân
Nghị định 180 quy định rất cụ thể về nguyên tắc định giá và phân bổ nguồn tiền thu được. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ đưa ra phương pháp xác định mức chi trả hàng hóa carbon áp dụng cho từng loại rừng. Nguyên tắc cơ bản là giá bán phải bù đắp được chi phí xây dựng dự án, đăng ký, MRV, và đặc biệt là hỗ trợ chi phí bảo vệ, phát triển rừng, sinh kế.
Hoạt động tạo lập và mua bán phải đảm bảo công khai, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, chủ rừng và các bên liên quan. Đặc biệt, nguồn tiền thu được từ việc trao đổi, chuyển nhượng tín chỉ carbon của tổ chức đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân phải được ưu tiên hỗ trợ cho công tác bảo vệ, phát triển rừng; nâng cao sinh kế cho cộng đồng dân cư; xây dựng dự án carbon rừng; đo đạc, báo cáo, thẩm định và xây dựng cơ sở dữ liệu về lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Quy định mới được kỳ vọng sẽ chấm dứt giai đoạn thị trường hoạt động phân tán, thiếu quy chuẩn. Sự minh bạch này không chỉ thúc đẩy dòng vốn đầu tư vào lâm nghiệp mà còn giúp Việt Nam đạt được các mục tiêu phát thải một cách chủ động và bền vững.
Các khái niệm cốt lõi theo Nghị định số 180/2026/NĐ-CP:
Dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng: Là hoạt động cung ứng kết quả giảm phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon rừng. Khí CO2 được hấp thụ từ bầu khí quyển thông qua quá trình quang hợp của cây và lưu giữ trong rừng.
Kết quả giảm phát thải khí nhà kính của rừng: Lượng giảm phát thải và lượng tăng hấp thụ carbon tại thời điểm xác định so với thời điểm tham chiếu (tính bằng tấn CO2 hoặc tấn CO2 tương đương).
Dự án carbon rừng: Gồm các hoạt động hạn chế mất rừng, suy thoái rừng; bảo tồn, nâng cao trữ lượng carbon (REDD+); trồng rừng, xúc tiến tái sinh tự nhiên; làm giàu rừng; nâng cao năng suất, kéo dài chu kỳ kinh doanh rừng trồng; canh tác lâm nông kết hợp.