Nâng chất nghiên cứu khoa học đại học: Từ yêu cầu của Nghị quyết 57 đến thách thức thực tiễn
Trong cấu trúc phát triển của một quốc gia hiện đại, cơ sở giáo dục đại học không chỉ là nơi đào tạo nguồn nhân lực mà còn phải là trung tâm sáng tạo tri thức, sản sinh công nghệ và dẫn dắt tư duy phát triển xã hội.
Ở nhiều quốc gia phát triển, năng lực nghiên cứu khoa học chính là “thước đo mềm” để đánh giá vị thế của một trường đại học trong hệ sinh thái tri thức toàn cầu. Một đại học mạnh không chỉ được nhìn nhận qua số lượng sinh viên tốt nghiệp hay quy mô tuyển sinh mà còn ở khả năng tạo ra phát hiện mới, giải quyết các vấn đề thực tiễn và góp phần thúc đẩy năng lực cạnh tranh quốc gia.
Trong bối cảnh chuyển đổi số và kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ, nghiên cứu khoa học không còn là phần “cộng thêm” của giáo dục đại học mà trở thành năng lực lõi của đại học hiện đại. Tinh thần đó được thể hiện rất rõ trong Nghị quyết 57-NQ/TW khi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xem là động lực trung tâm của phát triển đất nước. Điều này đặt các cơ sở giáo dục đại học trước một yêu cầu mới: không chỉ đào tạo người lao động cho thị trường mà còn phải tham gia trực tiếp vào quá trình tạo lập tri thức, giải quyết các bài toán thực tiễn và góp phần định hình tương lai phát triển quốc gia.
Tuy nhiên, nhìn một cách khái quát, hoạt động nghiên cứu khoa học trong không ít cơ sở giáo dục đại học hiện nay vẫn còn tồn tại khoảng cách khá lớn giữa yêu cầu chiến lược và năng lực thực thi. Số lượng bài báo khoa học tăng lên qua từng năm nhưng chất lượng chưa thật sự đồng đều; công bố quốc tế có cải thiện nhưng thiếu tính bền vững; nghiên cứu ứng dụng còn mỏng; nhiều giảng viên vẫn bị cuốn vào áp lực giờ dạy, thủ tục hành chính và các công việc kiêm nhiệm hơn là đầu tư chiều sâu học thuật. Một bộ phận hoạt động nghiên cứu còn chạy theo “điểm số khoa học”, công bố để đủ chuẩn hoặc hoàn thành KPI hơn là tạo ra giá trị học thuật và giá trị xã hội thực sự.
Trong bối cảnh đó, nâng chất nghiên cứu khoa học trong các cơ sở giáo dục đại học không còn là câu chuyện phong trào mà là yêu cầu mang tính sống còn. Nếu đại học chỉ mạnh giảng dạy nhưng yếu nghiên cứu thì rất khó đào tạo ra nguồn nhân lực có năng lực sáng tạo, năng lực phản biện và khả năng thích ứng với những biến động nhanh chóng của thời đại số. Muốn nâng chất nghiên cứu thật sự cần bắt đầu từ thay đổi tư duy quản trị khoa học, tái cấu trúc môi trường nghiên cứu, xây dựng văn hóa học thuật đúng nghĩa và tạo dựng một hệ sinh thái phát triển khoa học bền vững.
Điều đáng lo hiện nay không phải là số lượng công bố khoa học ít hay nhiều mà là nguy cơ nghiên cứu bị hành chính hóa thành chỉ tiêu thi đua hoặc KPI học thuật. Khi khoa học bị cuốn vào áp lực ‘đủ chuẩn’, người làm nghiên cứu rất dễ đánh mất năng lực phát hiện và chiều sâu phản biện. Đại học hiện đại cần chuyển từ tư duy ‘nghiên cứu để hoàn thành nhiệm vụ’ sang ‘nghiên cứu để tạo giá trị’, giải quyết vấn đề thực tiễn và đóng góp cho xã hội. Chỉ khi đó, nghiên cứu khoa học mới trở thành động lực phát triển thật sự của giáo dục đại học”
– GS.TS Huỳnh Văn Sơn.

Chuyển từ “nghiên cứu để đủ chuẩn” sang “nghiên cứu để tạo giá trị”
Một thực tế cần nhìn nhận nghiêm túc là không ít hoạt động nghiên cứu hiện nay vẫn bị chi phối bởi tư duy đối phó: làm đề tài để đủ điều kiện thi đua, công bố để đủ chuẩn xét chức danh hoặc hoàn thành KPI học thuật. Khi nghiên cứu bị hành chính hóa thành chỉ tiêu, khoa học rất dễ mất đi năng lực phát hiện và chiều sâu phản biện.
Theo Scimago Journal & Country Rank, Việt Nam có tốc độ tăng công bố quốc tế khá nhanh trong khu vực Đông Nam Á, nhưng tỉ lệ công bố thuộc nhóm Q1 và số lượng bằng sáng chế chuyển giao vẫn còn khoảng cách đáng kể so với Singapore, Malaysia hay Thái Lan. Điều đó cho thấy chúng ta đang tăng về lượng nhưng chưa thật sự mạnh về chiều sâu học thuật.
Muốn thay đổi thực trạng này, các cơ sở giáo dục đại học cần chuyển triết lí nghiên cứu từ “hoàn thành nhiệm vụ” sang “giải quyết vấn đề”. Một đề tài khoa học không chỉ dừng ở việc nghiệm thu đạt yêu cầu mà cần trả lời được câu hỏi: nghiên cứu này giúp ích gì cho cộng đồng khoa học, cho giáo dục, cho doanh nghiệp hay cho xã hội?
Lẽ dĩ nhiên, mỗi nhóm ngành có đặc thù riêng và không thể cào bằng mọi tiêu chí đánh giá. Tuy nhiên, nếu chỉ chạy theo số lượng công bố mà thiếu tính phát hiện, nền khoa học rất dễ trở nên “ồn ào nhưng mỏng”.

Phải bắt đầu từ con người nghiên cứu và hệ sinh thái nhà khoa học
Một trong những điểm nghẽn lớn nhất của nghiên cứu khoa học đại học hiện nay là nguồn lực nghiên cứu chưa thật sự mạnh và chưa được phát triển đúng cách. Có những giảng viên trẻ có năng lực nhưng thiếu người dẫn dắt học thuật; cũng có những nhà khoa học nhiều kinh nghiệm nhưng đang bị bào mòn bởi quản lý và thủ tục hành chính.
Theo dữ liệu của World Bank và UNESCO UIS, mức chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của Việt Nam hiện vẫn ở mức thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực, dao động khoảng 0,4 – 0,5% GDP trong những năm gần đây. Điều này phần nào ảnh hưởng đến năng lực nghiên cứu của các trường đại học.
Muốn nâng chất nghiên cứu phải đầu tư cho “hệ sinh thái nhà khoa học”: năng lực học thuật, động lực nghiên cứu và môi trường phát triển. Trong bối cảnh hiện nay, các vấn đề lớn của xã hội đều mang tính liên ngành, vì vậy các cơ sở giáo dục đại học cần xây dựng nhóm nghiên cứu mạnh thay vì để giảng viên nghiên cứu đơn lẻ.
Một đại học nghiên cứu đúng nghĩa phải biết “giải phóng nhà khoa học” khỏi những áp lực không cần thiết để họ tập trung cho tư duy học thuật. Tuy nhiên, điều này cũng cần được vận dụng có kiểm soát để tránh quá thiên về nghiên cứu mà xem nhẹ chất lượng đào tạo.
Trong kỷ nguyên tri thức và đổi mới sáng tạo, một đại học chỉ mạnh đào tạo sẽ tạo ra người lao động, nhưng một đại học mạnh nghiên cứu mới có thể tạo ra tương lai. Muốn nâng chất nghiên cứu khoa học, điều quan trọng không chỉ là đầu tư kinh phí hay tăng số lượng đề tài, mà phải xây dựng văn hóa học thuật mạnh, nơi người làm khoa học được tôn trọng bằng năng lực thật, được khuyến khích phản biện và sáng tạo. Khi khoa học được đặt đúng vị trí trong đại học, nhà trường mới có thể trở thành nơi kiến tạo tri thức và thúc đẩy phát triển quốc gia”
- GS.TS Huỳnh Văn Sơn.
Chuyển đổi số phải trở thành đòn bẩy nâng chất nghiên cứu
Tinh thần của Nghị quyết 57-NQ/TW không chỉ nhấn mạnh đổi mới sáng tạo mà còn đặt chuyển đổi số vào vị trí trung tâm của phát triển khoa học công nghệ. Đây là cơ hội lớn để các cơ sở giáo dục đại học tái cấu trúc hoạt động nghiên cứu theo hướng hiện đại hơn.
Trong thời đại dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo phát triển mạnh mẽ, hoạt động nghiên cứu không thể tiếp tục theo phương thức truyền thống. Các trường đại học cần đầu tư cơ sở dữ liệu học thuật, thư viện số và nền tảng quản lý nghiên cứu đồng bộ.
Hiện nay, nhiều trường đại học trên thế giới đã sử dụng AI để hỗ trợ rà soát tài liệu, phân tích dữ liệu và dự báo xu hướng nghiên cứu. Tuy nhiên, công nghệ không thể thay thế tư duy khoa học. AI có thể hỗ trợ xử lý dữ liệu nhưng không thể thay thế khả năng đặt vấn đề, tư duy phản biện và chiều sâu học thuật của con người.
Một nguy cơ đáng lưu ý là xu hướng “nghiên cứu nhanh”, “công bố nhanh” nhờ AI có thể dẫn đến sự dễ dãi học thuật. Vì vậy, nâng chất nghiên cứu trong thời đại số không phải là lệ thuộc vào công nghệ mà là biết sử dụng công nghệ để gia tăng năng lực học thuật.

Gắn nghiên cứu với thực tiễn xã hội và nhu cầu phát triển đất nước
Một hạn chế khá rõ hiện nay là nhiều nghiên cứu trong cơ sở giáo dục đại học vẫn còn khoảng cách với thực tiễn xã hội. Có những đề tài rất đúng quy trình nhưng chưa chạm đến các vấn đề mà xã hội đang cần giải quyết.
Nghiên cứu khoa học sẽ khó có giá trị nếu người nghiên cứu đứng quá xa đời sống. Các cơ sở giáo dục đại học cần hướng nghiên cứu vào những vấn đề thật như giáo dục số, sức khỏe tinh thần học đường, biến đổi khí hậu, già hóa dân số hay phát triển bền vững.
Trong nhiều trường hợp, nghiên cứu không chỉ dừng ở mô tả thực trạng mà cần tham gia đề xuất chính sách, mô hình can thiệp và giải pháp phát triển. Khi nghiên cứu gắn với nhu cầu thực tiễn, đại học sẽ không còn là “tháp ngà học thuật” mà trở thành trung tâm tri thức có trách nhiệm xã hội.
Điều quan trọng nhất để nâng chất nghiên cứu khoa học không chỉ nằm ở kinh phí hay số lượng đề tài mà nằm ở văn hóa học thuật của nhà trường. Một cơ sở giáo dục đại học mạnh là nơi người làm khoa học được tôn trọng bằng năng lực thật; nơi phản biện học thuật được khuyến khích và nơi nghiên cứu không bị hành chính hóa.
Văn hóa học thuật không thể hình thành bằng khẩu hiệu mà phải được xây dựng từ cách lãnh đạo ứng xử với khoa học. Nếu lãnh đạo chỉ quan tâm đến chỉ tiêu hình thức thì nghiên cứu sẽ chạy theo hình thức. Ngược lại, nếu coi trọng chiều sâu học thuật và khuyến khích sáng tạo, môi trường nghiên cứu mới có thể phát triển bền vững.
Một đại học mà người giỏi không muốn ở lại nghiên cứu thì rất khó hình thành sức mạnh học thuật lâu dài. Uy tín học thuật không thể xây dựng bằng các chiến dịch công bố ngắn hạn mà là kết quả của quá trình nuôi dưỡng văn hóa nghiên cứu và chuẩn mực khoa học.
Đại học mạnh nghiên cứu mới có thể tạo ra tương lai
Nâng chất nghiên cứu khoa học trong các cơ sở giáo dục đại học không phải là cuộc chạy đua công bố mà là hành trình xây dựng năng lực học thuật thực chất. Một đại học chỉ mạnh đào tạo sẽ tạo ra người lao động; một đại học mạnh nghiên cứu mới có thể tạo ra tương lai.
Trong kỷ nguyên tri thức và đổi mới sáng tạo, nếu khoa học không được đặt đúng vị trí trong đại học thì rất khó để đại học trở thành động lực phát triển quốc gia. Hành trình nâng chất nghiên cứu không đơn giản, đòi hỏi sự thay đổi từ nhận thức, cơ chế quản trị cho đến đầu tư nguồn lực và xây dựng môi trường học thuật.
Tinh thần của Nghị quyết 57-NQ/TW đã mở ra một yêu cầu mới đối với các cơ sở giáo dục đại học: phải xem khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là nền tảng phát triển lâu dài. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc các trường đại học cần mạnh dạn thay đổi mô hình quản trị, thúc đẩy chuyển đổi số, đầu tư cho con người và xây dựng văn hóa nghiên cứu bền vững.
Khi khoa học được đặt đúng vị trí trong đại học, nhà trường sẽ không chỉ là nơi truyền đạt tri thức mà còn là nơi kiến tạo tương lai. Một nền giáo dục đại học mạnh về nghiên cứu sẽ góp phần hình thành đội ngũ trí thức có năng lực sáng tạo, có trách nhiệm xã hội và đủ khả năng dẫn dắt sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.
Đó cũng chính là con đường để đại học Việt Nam từng bước khẳng định vị thế trong hệ sinh thái tri thức toàn cầu, đóng góp thiết thực cho sự phát triển bền vững của quốc gia trong thời đại chuyển đổi số và cạnh tranh tri thức ngày càng mạnh mẽ.