TP.HCM tìm cách liên thông dữ liệu đất đai, quy hoạch và xây dựng
Trong nỗ lực kiến tạo hạ tầng số phục vụ kỷ nguyên mới, Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM tiếp tục đẩy mạnh đề án ứng dụng công nghệ GIS và viễn thám trong quản lý đất đai, quy hoạch và xây dựng, tổ chức nghiên cứu tìm giải pháp liên thông dữ liệu đất đai, quy hoạch và xây dựng.
Là đơn vị thực hiện, Trung tâm Công nghệ thông tin và Địa không gian TP.HCM vừa có báo cáo tổng hợp về kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh, với đề tài "Nghiên cứu về tích hợp, chia sẻ, xây dựng công cụ trực quan hoá và quy chế vận hành, khai thác dữ liệu đất đai, quy hoạch, xây dựng (giai đoạn 1)" do ThS Phạm Quốc Phương - Giám đốc Trung tâm làm chủ nhiệm nhiệm vụ.

Không chỉ dừng ở việc thu thập dữ liệu, nhóm nghiên cứu đã đề xuất xây dựng cấu trúc siêu dữ liệu và nền tảng tích hợp dùng chung cho lĩnh vực đất đai, quy hoạch, xây dựng.
Dữ liệu vẫn phân tán thiếu liên thông, đồng bộ
Theo ThS Phạm Quốc Phương, TP.HCM là đô thị lớn nhất cả nước, với dân số hơn 14 triệu người trên địa bàn 168 phường, xã và đặc khu. Thành phố có tốc độ đô thị hoá nhanh, đang phải đối mặt với nhiều thách thức, bất cập trong quản lý cơ sở hạ tầng, đặc biệt là trong lĩnh vực đất đai, quy hoạch và xây dựng. Trong khi đó, hệ thống thông tin địa lý (GIS), viễn thám ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ hoạch định các chính sách, chiến lược của một vùng lãnh thổ, hỗ trợ quản lý nhà nước trong rất nhiều lĩnh vực.
Tuy nhiên, hiện nay các cơ sở dữ liệu và hệ thống quản lý chuyên ngành về quản lý đất đai, quy hoạch và xây dựng chưa có sự liên thông, chia sẻ thông tin, dữ liệu một cách đồng bộ, thống nhất; chưa có các công cụ trực quan hóa, thống kê số liệu, tạo các báo cáo nhanh phục vụ quản lý nhà nước, cơ sở dữ liệu hình thành qua nhiều giai đoạn khác nhau, trong nhiều quy trình riêng; dữ liệu lớn, phức tạp và chưa được cập nhật.

Nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát tại 3 Sở (Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Quy hoạch - Kiến trúc, Sở xây dựng) và các quận huyện (cũ) cho thấy nhu cầu sử dụng dữ liệu của các đơn vị chuyên môn là rất lớn, tuy nhiên việc khai thác còn gặp khó khăn do thiếu chuẩn chung, thiếu công cụ tích hợp và chưa có quy chế vận hành thống nhất dẫn đến tình trạng dữ liệu chưa phát huy hết giá trị phục vụ.
Cần một "ngôn ngữ chung" cho dữ liệu
Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu đã triển khai nhiều nội dung trọng tâm. Trước hết là nghiên cứu, đề xuất danh mục dữ liệu và cấu trúc metadata phục vụ tích hợp, liên thông và chia sẻ dữ liệu giữa các lĩnh vực đất đai, quy hoạch và xây dựng, đề xuất các cơ sở dữ liệu dùng chung, gồm: cơ sở dữ liệu cấp phép xây dựng, cơ sở dữ liệu quản lý nhà, cơ sở dữ liệu quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị, cơ sở dữ liệu thông tin quy hoạch phân khu, cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý tỷ lệ: 1:2000; 1:5000, cơ sở dữ liệu đất đai…

Cụ thể, cơ sở dữ liệu đất đai giúp quản lý thông tin dữ liệu về đất đai trên địa bàn Thành phố. Trong đó, các nội dung cần chuyển đổi số gồm cơ sở dữ liệu địa chính, cơ sở dữ liệu giá đất, cơ sở dữ liệu thống kê đất đai, cơ sở dữ liệu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Theo đó, dịch vụ kết nối, đồng bộ dữ liệu đất đai từ Sở Nông nghiệp và Môi trường về Kho dữ liệu dùng chung của Thành phố; chia sẻ dữ liệu mặc định thông qua qua các dịch vụ chia sẻ, khai thác dữ liệu; chia sẻ dữ liệu theo yêu cầu đặc thù của cơ quan, đơn vị.
Song song với việc xây dựng danh mục dữ liệu, nhóm nghiên cứu tập trung đề xuất cấu trúc siêu dữ liệu (metadata) nhằm mô tả thống nhất các bộ dữ liệu trong lĩnh vực đất đai, quy hoạch và xây dựng.
Theo cách tiếp cận của nhóm, metadata là “dữ liệu về dữ liệu”, cung cấp các thông tin cốt lõi như mã định danh, tiêu đề, thời gian tạo lập, đơn vị chịu trách nhiệm, phạm vi không gian, mục đích và trạng thái của dữ liệu. Trên cơ sở tham chiếu các tiêu chuẩn quốc tế như ISO 19115-1 và quy chuẩn trong nước, nhóm tiến hành xác định rõ các thành phần của metadata, quy định định dạng dữ liệu cho từng trường thông tin và xây dựng quy tắc mô tả thống nhất.
Đáng chú ý, cấu trúc này được thiết kế gắn với nhu cầu tích hợp, liên thông và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan quản lý. Khi mỗi bộ dữ liệu đều được mô tả theo một chuẩn chung, việc kết nối, tra cứu và khai thác thông tin sẽ trở nên thuận lợi hơn, đồng thời hạn chế tình trạng thiếu đồng bộ giữa các hệ thống.
Nhóm nghiên cứu kỳ vọng, việc chuẩn hóa metadata sẽ tạo nền tảng kỹ thuật quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực đô thị.
Từ kho dữ liệu đến công cụ ra quyết định
Từ dữ liệu và tiêu chuẩn đã xây dựng, nhóm nghiên cứu đề xuất các nền tảng công nghệ cốt lõi. Thứ nhất là công nghệ tích hợp, chia sẻ và khai thác dữ liệu về quản lý đất đai, quy hoạch và xây dựng.
Theo nhóm nghiên cứu, tại thành phố, dữ liệu còn cát cứ, rời rạc, chưa được tích hợp, quản lý thống nhất để hỗ trợ việc ra quyết định. Nỗ lực triển khai trục tích hợp dữ liệu và các dịch vụ dữ liệu cũng chỉ giải quyết được vấn đề cung cấp dữ liệu đơn lẻ. Sự thiếu sót và thiếu tính chuẩn xác, sự sai lệch, không khớp nhau về lược đồ dữ liệu (data schema), không toàn diện về dữ liệu khiến cho việc sử dụng dữ liệu hợp nhất từ nhiều nguồn gặp khó khăn. Đây cũng là vấn đề mà các nước phát triển đã và đang tập trung giải quyết.
Giải pháp phù hợp cho vấn đề nêu trên là xây dựng một nền tảng dữ liệu (Data Platform) tổng quát, linh hoạt có khả năng thu nhận, hợp nhất, chuẩn hóa dữ liệu đến từ nhiều nguồn, hỗ trợ lưu trữ, phân tích, xử lý dữ liệu lớn. Do đó, để đảm bảo triển khai hiệu quả thành phố thông minh, thành phố cần phát triển nền tảng Hệ thống Cơ sở dữ liệu dùng chung nhằm hỗ trợ lãnh đạo thành phố ra quyết định chính xác, tối ưu, cung cấp tri thức, hiểu biết về quá trình hoạt động của đô thị, dự báo sự phát triển kinh tế - xã hội thành phố. Nền tảng này bao gồm các nhóm chức năng như quản lý lớp dữ liệu, chuẩn hóa dữ liệu, quản lý phiên bản, tích hợp và chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống.
Thứ hai là công cụ trực quan hóa, phân tích, thống kê và công khai dữ liệu, cho phép hiển thị dữ liệu dưới dạng bản đồ, dashboard, báo cáo thống kê, hỗ trợ theo dõi và giám sát theo thời gian thực.
Nhóm nghiên cứu chỉ ra các công cụ trực quan hoá dữ liệu đất đai hiện nay như Tableau - cho phép người dùng kết nối với nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, bao gồm các cơ sở dữ liệu quan trọng cho quản lý dữ liệu đất đai như Teradata, SAP, MySQL, Amazon AWS và Hadoop. Hay Power BI cung cấp các tính năng AI để chuẩn bị và phân tích dữ liệu tự động. Felt hỗ trợ kéo và thả nhiều định dạng tệp khác nhau, bao gồm cả các định dạng không gian địa lý, mà không cần xử lý dữ liệu phức tạp…
Theo nhóm nghiên cứu, sản phẩm của nhiệm vụ sẽ được triển khai thử nghiệm tại GITC. Hệ thống các công cụ GIS hỗ trợ tích hợp, chia sẻ, khai thác, trực quan hoá, phân tích, thống kê, công khai dữ liệu đất đai, quy hoạch và xây dựng trên địa bàn TP.HCM.

Đồng thời sản phẩm cũng cung cấp các công cụ tích hợp, chia sẻ, khai thác, phân tích, thống kê và tra cứu các số liệu báo cáo nhanh về các lĩnh vực đất đai, quy hoạch và xây dựng, hỗ trợ các cấp lãnh đạo đưa ra các hoạch định chính xác, hợp lý hỗ trợ tốt hơn cho công tác quản lý, quy hoạch, kịp thời phát hiện các sai phạm đối với các lĩnh vực đất đai, quy hoạch, xây dựng góp phần phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội trên địa bàn.
Các nước trên thế giới ứng dụng GIS như thế nào?
Trên thế giới, hệ thống thông tin địa lý (GIS) đã được một số quốc gia phát triển ứng dụng trong đất đai, quy hoạch đô thị như tại Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc, và một số nước thuộc khu vực châu Âu. Từ cơ sở dữ liệu GIS đã được xây dựng, thông qua siêu kết nối, hệ thống đã hỗ trợ các nhà lãnh đạo và quản lý đầy đủ thông tin chính xác và phân tích kỹ lưỡng phục vụ cho những quyết sách dù nhỏ hay lớn.
Sở Quy hoạch thành phố Los Angeles đã phát triển Hệ thống truy cập bản đồ và thông tin khu vực (ZIMAS). Hệ thống này là một tài nguyên GIS vô giá lưu trữ thông tin về đất đai, xây dựng, quy hoạch và sử dụng đất trên toàn thành phố, với các lớp thông tin cần thiết để cân bằng sự cạnh tranh các ưu tiên và giải quyết các vấn đề phức tạp - tối ưu hóa việc sử dụng đất mới để phù hợp với dân số ngày càng tăng. Người dân truy cập vào ZIMAS bằng trình duyệt web hoặc ứng dụng điện thoại thông minh.
Tại Nhật Bản, ứng dụng GIS đã được áp dụng rất phổ biến trong mọi lĩnh vực. Những năm 70, các nghiên cứu tập trung vào xây dựng hệ thống thông tin khu vực, thông tin đô thị, hệ thống thông tin về sử dụng đất, mạng lưới hạ tầng kỹ thuật đô thị. Những năm 80, triển khai ứng dụng vào công tác quản lý tại địa phương (quy hoạch, sử dụng đất, hạ tầng kỹ thuật đô thị...), nghiên cứu nâng cao và chuyên sâu vào hệ thống thông tin đô thị. Những năm 90, áp dụng vào đa ngành, liên ngành (nông nghiệp, khảo cổ, khoa học trái đất, giao thông, quy hoạch xây dựng, quản lý đất đai, giáo dục).
Tại Hàn Quốc, GIS đã được áp dụng vào hầu hết mọi lĩnh vực trên cả nước. Hàn Quốc đã triển khai xây dựng hệ thống GIS quốc gia chia thành 3 giai đoạn: 1995 – 2000, 2001 – 2005 và 2006 – 2010 với tổng mức đầu khoảng 2 tỷ USD nhằm tập trung vào các mục tiêu: xây dựng nền tàng cơ sở (bản đồ địa hình toàn quốc, địa chính, dữ liệu phi không gian...); xây dựng hạ tầng dữ liệu không gian (khung dữ liệu quốc gia, ngân hàng dữ liệu, phát triển công nghệ GIS, xây dựng tiêu chuẩn quốc gia, đào tạo chuyển giao công nghệ...).