Khoa học

Những chuyển động chính sách tạo cú hích cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo

Võ Liên - Quang Vững 19/05/2026 11:43

Việt Nam bước vào giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ sang nền kinh tế tri thức và kinh tế số, hàng loạt chủ trương, chính sách mới về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo liên tiếp được ban hành đã tạo nên những chuyển động đáng chú ý.

Từ Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến Luật Công nghiệp công nghệ số, các chính sách mới không chỉ tháo gỡ những "điểm nghẽn" tồn tại nhiều năm mà còn mở ra không gian phát triển mới cho doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và đội ngũ nhà khoa học.

hinh-4-cac-nha-khoa-hoc-tai-phong-nghien-cuu-thuoc-dhqg-tp.hcm.jpg
Hoạt động nghiên cứu khoa học tại phòng nghiên cứu thuộc ĐHQG TP.HCM. Ảnh: Thiện Thông

Điểm chung của các chính sách lần này là tư duy quản lý đã có sự thay đổi căn bản: từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển; từ hỗ trợ ứng dụng công nghệ sang khuyến khích làm chủ công nghệ; từ bảo hộ đơn thuần sang thúc đẩy thương mại hóa tài sản trí tuệ. Đây được xem là bước đi quan trọng để Việt Nam hình thành các động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số.

Luật Sở hữu trí tuệ: Tạo nền tảng cho thương mại hóa tài sản trí tuệ

Theo ông Trần Giang Khuê, Trưởng Văn phòng đại diện Cục Sở hữu trí tuệ tại TP.HCM, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi có hiệu lực từ ngày 1/4/2026 không chỉ thay đổi cách thức xác lập và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ mà còn tạo nền tảng pháp lý mới cho việc khai thác hiệu quả các thành quả khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.

hinh-1-ong-tran-giang-khue-truong-van-phong-dai-dien-cuc-so-huu-tri-tue-tai-tp.hcm.jpg
Ông Trần Giang Khuê, Trưởng Văn phòng đại diện Cục Sở hữu trí tuệ tại TP.HCM.

Ông Khuê cho rằng, trước đây, quyền sở hữu trí tuệ thường được nhìn nhận chủ yếu dưới góc độ bảo hộ quyền. Nhiều kết quả nghiên cứu sau khi được cấp bằng sáng chế hoặc đăng ký quyền sở hữu công nghiệp vẫn chưa được khai thác hiệu quả trong thực tế. Điều này khiến không ít công trình khoa học chỉ dừng lại ở việc “cất trong ngăn kéo”, gây lãng phí nguồn lực nghiên cứu.

Luật sửa đổi lần này đã chuyển mạnh tư duy từ bảo hộ sang khai thác thương mại tài sản trí tuệ. Theo đó, quyền sở hữu trí tuệ được xem như một loại tài sản có thể tạo ra giá trị kinh tế, cho phép chủ sở hữu dùng để góp vốn, thế chấp vay vốn hoặc tham gia các hoạt động đầu tư, thương mại.

Theo ông Khuê, đây là bước tiến rất quan trọng trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy phát triển hệ sinh thái khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Khi tài sản trí tuệ có thể được định giá và tham gia lưu thông trên thị trường, doanh nghiệp khoa học công nghệ, start-up, viện nghiên cứu hay trường đại học sẽ có thêm cơ hội huy động nguồn lực tài chính cho hoạt động nghiên cứu và phát triển.

“Việc cho phép khai thác tài sản trí tuệ linh hoạt hơn sẽ mở thêm kênh huy động vốn cho doanh nghiệp khoa học công nghệ, start-up, viện nghiên cứu và trường đại học”.

Ông Trần Giang Khuê - Trưởng Văn phòng đại diện Cục Sở hữu trí tuệ tại TP.HCM

Một điểm mới đáng chú ý khác là luật bổ sung quy định xây dựng cơ sở dữ liệu về giá giao dịch quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời khuyến khích hình thành các tổ chức trung gian như định giá, môi giới tài sản trí tuệ. Đây được xem là công cụ quan trọng giúp thị trường giao dịch tài sản trí tuệ vận hành minh bạch hơn, hạn chế tình trạng định giá cảm tính vốn tồn tại nhiều năm.

Bên cạnh đó, luật cũng yêu cầu doanh nghiệp xây dựng danh mục quản trị riêng đối với các tài sản trí tuệ chưa đủ điều kiện ghi nhận trên sổ kế toán. Theo ông Khuê, quy định này góp phần nâng cao năng lực quản trị tài sản vô hình - một trong những hạn chế lớn của nhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.

Không chỉ mang ý nghĩa về kinh tế, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi còn được kỳ vọng tạo môi trường thuận lợi để Việt Nam nhanh chóng tiếp thu, hấp thụ, làm chủ và ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến của thế giới. Đây cũng là một trong những điều kiện quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong tiến trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo: Mở không gian cho sáng tạo

Nếu Luật Sở hữu trí tuệ tạo nền tảng cho thương mại hóa kết quả nghiên cứu thì Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có hiệu lực từ ngày 1/10/2025 được xem là “đạo luật kiến tạo phát triển” cho giai đoạn mới.

hinh-2-luat-su-nguyen-hoai-son-cho-rang-luat-khoa-hoc-cong-nghe-va-doi-moi-sang-tao-la-dao-luat-se-kien-tao-phat-trien-cho-giai-doan-moi.png
Luật sư Nguyễn Hoài Sơn: “Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là đạo luật sẽ kiến tạo phát triển cho giai đoạn mới”.

Theo Luật sư Nguyễn Hoài Sơn - Giám đốc Công ty Luật TNHH Châu Á (ASIALAW), điểm quan trọng nhất của luật lần này nằm ở sự thay đổi tư duy quản lý. Nếu trước đây hoạt động khoa học công nghệ chủ yếu thiên về quản lý hành chính, kiểm soát đầu vào thì luật mới chuyển mạnh sang cơ chế chấp nhận rủi ro, đánh giá theo hiệu quả đầu ra và tạo không gian cho sáng tạo.

“Một quốc gia muốn có công nghệ lõi, muốn tạo ra các doanh nghiệp công nghệ mạnh thì phải chấp nhận đầu tư cho những ý tưởng mới, kể cả có rủi ro”.

Luật sư Nguyễn Hoài Sơn - Giám đốc Công ty Luật TNHH Châu Á (ASIALAW)

Theo ông Sơn, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo luôn tồn tại khả năng thất bại. Muốn có công nghệ lõi và doanh nghiệp công nghệ mạnh, Việt Nam phải chấp nhận đầu tư cho các ý tưởng mới, kể cả có rủi ro.

Một điểm đột phá khác là lần đầu tiên “đổi mới sáng tạo” được đặt ngang hàng với khoa học và công nghệ trong một đạo luật độc lập. Điều này phản ánh đúng xu thế phát triển của nền kinh tế tri thức, khi tăng trưởng không chỉ đến từ các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm mà còn từ khả năng thương mại hóa ý tưởng, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo.

Luật cũng thể hiện rõ định hướng chuyển từ “sử dụng công nghệ” sang “làm chủ công nghệ chiến lược”. Trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ toàn cầu ngày càng gay gắt, Việt Nam không thể mãi ở vị trí gia công hay phụ thuộc công nghệ nhập khẩu mà cần từng bước làm chủ các lĩnh vực cốt lõi như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học, dữ liệu lớn và công nghệ xanh.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, luật đã tạo hành lang pháp lý cho các chính sách ưu đãi về đầu tư, tài chính, nhân lực và thúc đẩy liên kết giữa Nhà nước - doanh nghiệp - viện trường. Đặc biệt, luật nhấn mạnh vai trò trung tâm của doanh nghiệp trong hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và thương mại hóa công nghệ. Đây được xem là hướng đi phù hợp với kinh nghiệm quốc tế, bởi những quốc gia có doanh nghiệp công nghệ mạnh thường cũng là những quốc gia có năng lực cạnh tranh cao.

Theo các chuyên gia, luật mới còn góp phần tháo gỡ tâm lý e ngại, sợ sai trong hoạt động nghiên cứu khoa học. Việc chấp nhận rủi ro, đánh giá dựa trên hiệu quả đầu ra thay vì quá nặng về thủ tục hành chính sẽ tạo động lực để các nhà khoa học mạnh dạn theo đuổi những hướng nghiên cứu mới.

Trong bối cảnh Việt Nam bước vào “kỷ nguyên vươn mình”, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được kỳ vọng trở thành cú hích thể chế quan trọng, góp phần khơi dậy tinh thần sáng tạo, thu hút nhân tài và hình thành các động lực tăng trưởng mới cho đất nước.

Luật Công nghiệp công nghệ số: Tạo cú hích cho doanh nghiệp công nghệ Việt

Cùng với Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi và Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Luật Công nghiệp công nghệ số có hiệu lực từ tháng 1/2026 được xem là bước đi chiến lược nhằm thúc đẩy Việt Nam chuyển từ quốc gia ứng dụng công nghệ sang làm chủ công nghệ.

hinh-3-ts-duong-minh-tam-nguyen-pho-truong-ban-ban-quan-ly-khu-cong-nghe-cao-tp.hcm-pho-chu-tich-hoi-cong-nghe-vi-mach-ban-dan-tp.hcm.jpg
TS Dương Minh Tâm - nguyên Phó Trưởng ban Ban Quản lý Khu Công nghệ cao TP.HCM, Phó Chủ tịch Hội Công nghệ Vi mạch Bán dẫn TP.HCM (HSIA).

Theo TS Dương Minh Tâm - nguyên Phó Trưởng ban Ban Quản lý Khu Công nghệ cao TP.HCM, Phó Chủ tịch Hội Công nghệ Vi mạch Bán dẫn TP.HCM (HSIA), Luật Công nghiệp công nghệ số được xây dựng trên nền tảng gần 30 năm phát triển công nghệ số của Việt Nam, đồng thời đưa ra nhiều chính sách cụ thể nhằm thúc đẩy nghiên cứu, phát triển và chuyển giao công nghệ số.

“Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ từ một quốc gia ứng dụng công nghệ sang quốc gia sáng tạo công nghệ số”. TS Dương Minh Tâm nhận định.

TS Dương Minh Tâm - nguyên Phó Trưởng ban Ban Quản lý Khu Công nghệ cao TP.HCM, Phó Chủ tịch Hội Công nghệ Vi mạch Bán dẫn TP.HCM (HSIA) chia sẻ.

Trong đó, đáng chú ý là các chính sách huy động nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu phát triển; xây dựng hạ tầng công nghiệp công nghệ số quy mô vùng và quốc gia; đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; cơ chế ưu đãi đặc biệt để thu hút chuyên gia, nhân tài công nghệ số. Đặc biệt, luật cho phép triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với các sản phẩm, dịch vụ ứng dụng công nghệ số. Theo các chuyên gia, đây là cơ chế quan trọng bởi công nghệ mới luôn cần môi trường thử nghiệm linh hoạt trước khi triển khai rộng rãi.

Luật cũng tạo động lực để doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam tiến tới tự chủ công nghệ và làm chủ quy trình thay vì chỉ dừng ở gia công. Theo TS Dương Minh Tâm, nhu cầu đối với các sản phẩm “Make in Việt Nam” hiện rất lớn và đây chính là cơ hội để doanh nghiệp công nghệ Việt bứt phá.

Dù luật mới có hiệu lực vài tháng, nhiều văn bản dưới luật đã nhanh chóng được ban hành để đưa chính sách vào thực tiễn. Tại TP.HCM, từ đầu năm 2026, thành phố đã triển khai nhiều kế hoạch liên quan đến phát triển công nghiệp công nghệ số, trong đó có chiến lược phát triển ngành công nghiệp bán dẫn, chương trình phát triển nguồn nhân lực bán dẫn và kế hoạch phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Theo TS Dương Minh Tâm, hiệu quả rõ nét của các chính sách mới có thể được nhìn thấy vào cuối năm nay, đặc biệt trong các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, bán dẫn và công nghệ số. Ông cho rằng Việt Nam hiện có nhiều lợi thế để phát triển công nghệ số như dân số trẻ, tỷ lệ sử dụng internet và smartphone cao cùng sự chỉ đạo quyết liệt từ Chính phủ. Mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu nằm trong nhóm ba quốc gia dẫn đầu Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển công nghệ số.

Võ Liên - Quang Vững