Khoa học

Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ: "Cần xem tài sản trí tuệ là nền tảng kết nối khoa học, công nghệ và thị trường"

Võ Liên - Ngọc Duy 13/03/2026 - 12:08

Để thương mại hóa thành công các kết quả nghiên cứu khoa học, cần xem tài sản trí tuệ là nền tảng kết nối giữa khoa học, công nghệ và thị trường.

Đây là nhận định được ông Nguyễn Hoàng Giang - Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ - nêu tại hội nghị triển khai thí điểm chính sách tạo động lực thương mại hóa, hướng tới đưa nhanh kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ và tài sản trí tuệ được hình thành từ ngân sách Nhà nước vào sản xuất, kinh doanh, tổ chức ngày 13/3 tại TP.HCM.

ong-nguyen-hoang-giang.jpg
Ông Nguyễn Hoàng Giang - Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ - phát biểu.

Phát biểu tại hội nghị, ông Nguyễn Hoàng Giang nhận định việc thí điểm các cơ chế mới là cách để kiểm chứng tính khả thi của chính sách khi đi vào thực tiễn.

Theo ông Giang, những quy định được xây dựng trong quá trình lập pháp chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được triển khai trong môi trường kinh tế cụ thể, nơi các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp trực tiếp tham gia.

"Những điều chúng ta hình dung khi xây dựng chính sách có thực sự phù hợp với thực tế hay không, các chủ thể trong nền kinh tế có triển khai được hay không, cần phải được kiểm chứng thông qua các đề án thí điểm như thế này. Với điều kiện hiện nay, rất khó có địa phương nào phù hợp để làm thí điểm như TP.HCM", ông Giang nói.

Tín hiệu tích cực từ hoạt động sáng tạo

Theo Cục Sở hữu trí tuệ, những năm gần đây Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng đã ghi nhận nhiều kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ có giá trị, hình thành từ các nhiệm vụ sử dụng ngân sách Nhà nước.

Riêng tại TP.HCM, về năng lực sáng tạo, tốc độ tăng trưởng trung bình tổng đơn đăng ký sở hữu công nghiệp giai đoạn 2021 – 2025 đạt 5,5%. Đặc biệt, tốc độ tăng trưởng trung bình văn bằng bảo hộ sáng chế đạt mức rất cao là 45,5%/năm.

dai-bieu-du-hoi-nghi.jpg
Các đại biểu tham dự hội nghị, sáng 13/3.

Đại diện Cục Sở hữu trí tuệ đánh giá những con số này cho thấy TP.HCM đang chuyển dịch theo hướng đi vào "chiều sâu" trong hoạt động sáng tạo. "Những kết quả liên quan đến văn bằng bảo hộ, đặc biệt là sáng chế, phản ánh rõ năng lực sáng tạo của các tổ chức nghiên cứu và doanh nghiệp", đại diện Cục Sở hữu trí tuệ cho biết.

Từ khi triển khai nghị quyết 57, ở phạm vi cả nước, số đơn nộp xin bảo hộ sáng chế đến năm 2025 tăng khoảng 33%. Trong khi đó, mục tiêu được đặt ra trong Nghị quyết 57 là tăng trưởng khoảng 16 - 18%.

Theo ông Giang, sự gia tăng này phần nào cho thấy niềm tin của cộng đồng khoa học đang được củng cố khi các chính sách về khoa học – công nghệ và sở hữu trí tuệ được điều chỉnh theo hướng khuyến khích đổi mới sáng tạo.

Không chỉ số lượng đơn đăng ký sáng chế tăng, hoạt động chuyển giao công nghệ cũng bắt đầu có tín hiệu tích cực. Trong năm 2025, số đơn đăng ký cấp phép khai thác (licensing) các kết quả nghiên cứu tăng khoảng 17,3% so với năm 2024. “Điều này cho thấy các sáng chế và giải pháp hữu ích đang bắt đầu được đưa ra thị trường nhiều hơn. Dù vẫn cần thêm thời gian để theo dõi và đánh giá nhưng những tín hiệu ban đầu là khá khả quan”, ông Giang nói.

Hình thành mô hình thương mại hóa trong khu vực công

Theo Cục Sở hữu trí tuệ, việc TP.HCM triển khai đề án thí điểm theo hướng lựa chọn các công nghệ và kết quả nghiên cứu có tiềm năng để hỗ trợ đưa ra thị trường là cách tiếp cận phù hợp với xu hướng hiện nay. Cách làm này không chỉ giúp rút kinh nghiệm từ thực tiễn mà còn có thể hình thành mô hình mẫu về thương mại hóa kết quả nghiên cứu trong khu vực công.

Để triển khai hiệu quả, các viện nghiên cứu, trường đại học và tổ chức khoa học – công nghệ được khuyến nghị chủ động rà soát các kết quả nghiên cứu có khả năng hình thành tài sản trí tuệ, đồng thời thực hiện tra cứu và đăng ký bảo hộ kịp thời.

Các tổ chức cũng cần xây dựng chiến lược khai thác tài sản trí tuệ phù hợp với đặc thù công nghệ và nhu cầu thị trường, cũng như tăng cường năng lực quản trị tài sản trí tuệ trong nội bộ.

Theo ông Nguyễn Hoàng Giang, trong thời gian tới, khi các quy định mới của Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi có hiệu lực, Cục Sở hữu trí tuệ cho biết sẽ tiếp tục phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM để hỗ trợ chuyên môn, tư vấn chiến lược bảo hộ và chia sẻ kinh nghiệm khai thác tài sản trí tuệ.

Theo các chuyên gia, nếu được triển khai hiệu quả, đề án thí điểm này có thể góp phần thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, đưa nhiều kết quả nghiên cứu từ ngân sách Nhà nước đi vào sản xuất và kinh doanh.

“Muốn thương mại hóa thành công các kết quả nghiên cứu khoa học, cần xem tài sản trí tuệ là nền tảng kết nối giữa khoa học, công nghệ và thị trường. Khi quyền được làm rõ, giá trị được lượng hóa và cơ chế khai thác được thiết kế phù hợp, kết quả nghiên cứu từ ngân sách nhà nước sẽ thực sự trở thành động lực cho phát triển kinh tế – xã hội”, ông Giang nhấn mạnh.

Ba thông điệp từ kinh nghiệm quốc tế

Từ thực tiễn trong nước và kinh nghiệm quốc tế, đại diện Cục Sở hữu trí tuệ chia sẻ ba thông điệp quan trọng đối với quá trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Trước hết, thương mại hóa cần bắt đầu từ quản trị tài sản trí tuệ. Một kết quả nghiên cứu chỉ thực sự trở thành tài sản kinh tế khi được nhận diện, bảo hộ và quản trị dưới góc độ quyền sở hữu trí tuệ. Khi quyền sở hữu được xác lập rõ ràng, công nghệ mới có thể được định giá, chuyển giao hoặc cấp phép khai thác, từ đó thu hút đầu tư từ doanh nghiệp.

Nhiều quốc gia đã có bước đi mạnh mẽ trong vấn đề này. Ông Giang dẫn chứng, Hàn Quốc trao quyền sở hữu kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách Nhà nước trực tiếp cho các trường đại học và viện nghiên cứu, đồng thời xây dựng các văn phòng chuyển giao công nghệ chuyên trách để quản lý tài sản trí tuệ. Tại Trung Quốc, nhiều địa phương cũng thành lập các trung tâm vận hành và chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ nhằm kết nối trực tiếp giữa trường đại học và doanh nghiệp.

Thông điệp thứ hai là bảo hộ sở hữu trí tuệ cần gắn với chiến lược thị trường. Trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ ngày càng gay gắt, việc đăng ký sáng chế hay giải pháp hữu ích không chỉ nhằm bảo vệ quyền lợi pháp lý mà còn tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.

Một số quốc gia đã triển khai nhiều cơ chế tài chính để thúc đẩy hoạt động này. Chẳng hạn, Trung Quốc khuyến khích doanh nghiệp thế chấp quyền sở hữu trí tuệ để vay vốn, đồng thời xây dựng hệ thống bảo lãnh tín dụng nhằm giảm rủi ro cho các ngân hàng.

Hàn Quốc cũng dành nguồn ngân sách đáng kể cho các hoạt động sau nghiên cứu như đánh giá công nghệ, định giá tài sản trí tuệ và hoàn thiện mẫu thử nhằm đưa công nghệ ra thị trường.

Thông điệp thứ ba là cần xây dựng cơ chế khai thác tài sản trí tuệ minh bạch để tạo động lực cho nhà khoa học. Đối với các kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước, việc xác định rõ quyền sở hữu, quyền khai thác và cơ chế phân chia lợi ích giữa tổ chức chủ trì, nhóm nghiên cứu và đối tác thương mại là yếu tố rất quan trọng.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy động lực tài chính đóng vai trò then chốt. Tại Hàn Quốc, nhà nghiên cứu có thể được hưởng trên 50% tiền bản quyền từ chuyển giao công nghệ. Ở nhiều trường đại học Trung Quốc, tỉ lệ này thậm chí lên tới 70%.

Bên cạnh đó, nhiều viện nghiên cứu và trường đại học được phép thành lập doanh nghiệp spin-off hoặc công ty holding để trực tiếp thương mại hóa công nghệ, giúp rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường.

Võ Liên - Ngọc Duy