Nỗ lực của y học Việt trong điều trị hiếm muộn
Việc PGS.TS.BS Vương Thị Ngọc Lan - Phó Hiệu trưởng Đại học Y Dược TP.HCM - trở thành đại diện châu Á tham gia biên soạn Hướng dẫn về Dự phòng, Chẩn đoán và Điều trị hiếm muộn năm 2025 của Tổ chức Y tế thế giới (WHO, World Health Organization) không chỉ là niềm vinh dự cá nhân mà còn đánh dấu sự ghi nhận của cộng đồng khoa học quốc tế đối với lĩnh vực điều trị hiếm muộn của Việt Nam.
Nhân dịp Ngày Thầy thuốc Việt Nam 27/2, phóng viên Tạp chí Khoa học phổ thông đã có cuộc trao đổi với PGS.TS.BS Vương Thị Ngọc Lan về hành trình khoa học ấy cũng như những thay đổi sâu sắc của lĩnh vực hiếm muộn suốt ba thập kỷ qua.

Ghi nhận của cộng đồng khoa học quốc tế
Phóng viên: Thưa bà, việc trở thành đại diện châu Á tham gia biên soạn Hướng dẫn về Dự phòng, Chẩn đoán và Điều trị hiếm muộn năm 2025 của Tổ chức Y tế thế giới có ý nghĩa như thế nào với cá nhân bà và quá trình này đã diễn ra như thế nào?
- PGS.TS.BS Vương Thị Ngọc Lan: Tôi cảm thấy rất vinh dự khi được Tổ chức Y tế Thế giới mời tham gia nhóm tác giả chủ chốt xây dựng Hướng dẫn dự phòng, chẩn đoán và điều trị hiếm muộn. Cá nhân tôi cũng khá bất ngờ trước lời mời này. Tôi nghĩ rằng, việc thực hiện các công trình nghiên cứu khoa học, kinh nghiệm thực tiễn nhiều năm trong lĩnh vực điều trị hiếm muộn và sự tham gia chuyên môn một cách liên tục, có trách nhiệm trong các hoạt động học thuật là những yếu tố để WHO xem xét, lựa chọn các thành viên tham gia xây dựng hướng dẫn.
Dự án được khởi động từ năm 2018 và kéo dài suốt 7 năm với hơn 200 cuộc họp trực tiếp và trực tuyến. Quá trình tham gia xây dựng hướng dẫn đã giúp tôi có cơ hội học hỏi rất nhiều về phương pháp xây dựng hướng dẫn dựa trên bằng chứng, tinh thần khoa học nghiêm túc và sự hợp tác chuyên nghiệp giữa các chuyên gia quốc tế.
Ở góc độ chuyên môn, dự án có ý nghĩa như thế nào?
- Ý nghĩa lớn nhất của dự án là lần đầu tiên WHO ban hành một bộ hướng dẫn toàn diện về hiếm muộn, chính thức công nhận hiếm muộn là một vấn đề sức khỏe cần được quan tâm đúng mức trên phạm vi toàn cầu.
Đối với Việt Nam, ngoài tôi tham gia nhóm biên soạn hướng dẫn, được biết có một đồng nghiệp ở phía Bắc được mời phản biện 1 chủ đề của hướng dẫn. Việc chuyên gia Việt Nam được mời tham gia xây dựng hướng dẫn của WHO thể hiện sự ghi nhận của cộng đồng khoa học quốc tế đối với năng lực chuyên môn và những đóng góp thực chất của Việt Nam, đồng thời phản ánh sự phát triển của lĩnh vực điều trị hiếm muộn của Việt Nam.

Khi tham gia biên soạn hướng dẫn của WHO, bà đã đưa vào những kinh nghiệm hay đặc thù nào từ Việt Nam?
- Khi xây dựng hướng dẫn, WHO luôn tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc dựa trên bằng chứng khoa học, đồng thời cân nhắc tính khả thi, chi phí – hiệu quả và sự công bằng trong tiếp cận các biện pháp dự phòng, kỹ thuật chẩn đoán và điều trị. Trong quá trình tham gia biên soạn, những đóng góp từ Việt Nam chủ yếu được thể hiện thông qua các nghiên cứu đã được công bố, cung cấp thêm bằng chứng khoa học có giá trị từ bối cảnh của một quốc gia có nguồn lực còn hạn chế nhưng nhu cầu điều trị hiếm muộn rất lớn.

Từ tối đa hóa chuyển sang tối ưu hóa
Từ khi bà bắt đầu làm nghề đến nay, kỹ thuật và cách tiếp cận trong điều trị hiếm muộn đã thay đổi như thế nào?
- Tôi đã tham gia thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) gần 30 năm và có thể nói rằng lĩnh vực điều trị hiếm muộn đã có những bước phát triển rất nhanh và toàn diện. Những tiến bộ về kỹ thuật, trang thiết bị, thuốc men và phương tiện hỗ trợ đã làm thay đổi căn bản hiệu quả và phạm vi điều trị. Nhiều kỹ thuật chuyên sâu ra đời giúp nâng cao tỷ lệ thành công và mở rộng khả năng điều trị cho những trường hợp trước đây rất khó, chẳng hạn như xét nghiệm di truyền tiền làm tổ để sàng lọc các phôi mang bệnh di truyền từ cha mẹ, kỹ thuật trưởng thành noãn bên ngoài cơ thể người phụ nữ giúp điều trị hiếm muộn cho các phụ nữ có hội chứng buồng trứng đa nang một cách hiệu quả và an toàn...

Về cách tiếp cận, trước đây các trung tâm TTTON thường theo hướng “tối đa hóa”, tức là kích thích buồng trứng mạnh để thu được nhiều noãn, tạo nhiều phôi và chuyển nhiều phôi vào buồng tử cung nhằm tăng cơ hội có thai. Ngày nay, với sự phát triển của kỹ thuật và bằng chứng khoa học ngày càng đầy đủ, cách tiếp cận đã chuyển sang “tối ưu hóa”, đặt sự an toàn của người bệnh lên hàng đầu. Kích thích buồng trứng được cá thể hóa và vừa phải hơn; thậm chí ở một số nhóm bệnh nhân, có thể thực hiện TTTON không kích thích buồng trứng để tránh nguy cơ quá kích buồng trứng. Việc chuyển đơn phôi hiện đã trở thành xu hướng chủ đạo tại hầu hết các trung tâm, nhằm giảm đa thai và đảm bảo thai kỳ an toàn cho cả mẹ và trẻ.
Bên cạnh đó, điều kiện làm việc của các chuyên viên phôi học cũng đã được cải thiện rõ rệt. Những năm đầu, việc kiểm soát môi trường phòng cấy phôi rất khắt khe, ví dụ như phòng kín, áp lực dương, ánh sáng tối thiểu, môi trường khô, nhiệt độ ấm và nồng độ CO2 trong không khi của phòng thường cao hơn trong tự nhiên, khiến công việc trở nên nặng nhọc và áp lực. Hiện nay, với hệ thống trang thiết bị hiện đại và kiểm soát chất lượng tốt hơn, các chuyên viên phôi học được làm việc trong môi trường làm việc an toàn, thuận lợi hơn rất nhiều. Điều này cũng góp phần nâng cao hiệu quả của kỹ thuật điều trị.
Việt Nam đã làm chủ hầu hết các kỹ thuật chuyên sâu trong điều trị hiếm muộn
Bà có tham vọng gì cho sự phát triển của ngành hiếm muộn Việt Nam trong thời gian tới?
- Việt Nam là một trong những quốc gia có sự phát triển nhanh trong lĩnh vực điều trị hiếm muộn. Mặc dù chúng ta đi sau thế giới khoảng 20 năm (em bé thụ tinh trong ống nghiệm đầu tiên trên thế giới ra đời năm 1978) và sau châu Á khoảng 13 năm (em bé đầu tiên của châu Á ra đời năm 1985), nhưng đến nay, Việt Nam đã làm chủ hầu hết các kỹ thuật chuyên sâu trong điều trị hiếm muộn. Ở một số lĩnh vực, chúng ta thậm chí đang có những đóng góp mang tính dẫn dắt trong khu vực và được cộng đồng quốc tế ghi nhận.

Bên cạnh thực hành lâm sàng, các nhóm nghiên cứu của Việt Nam đã có nhiều công trình được công bố trên các tạp chí y khoa uy tín, và các chuyên gia trong nước thường xuyên được mời báo cáo tại các hội nghị chuyên ngành lớn trong khu vực và trên thế giới. Chúng ta cũng đã xây dựng được hệ thống pháp lý và quy định tương đối tiến bộ, tạo hành lang an toàn cho việc triển khai các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và bảo đảm chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp. Nhiều trung tâm IVF đã đạt kiểm định chất lượng quốc tế theo tiêu chuẩn Úc – New Zealand (RTAC), đồng thời Việt Nam cũng đang từng bước hoàn thiện Bộ tiêu chí chất lượng riêng phù hợp với bối cảnh trong nước.
Với lực lượng nhân sự trẻ, được đào tạo bài bản và sự tham gia tích cực vào các hoạt động học thuật trong nước và quốc tế, tôi kỳ vọng trong thời gian tới, lĩnh vực hiếm muộn của Việt Nam không chỉ tiếp tục phát triển bền vững mà còn trở thành điểm đến tin cậy cho người bệnh trong khu vực, đồng thời là một trung tâm đào tạo và hợp tác quốc tế về hỗ trợ sinh sản.
Niềm hạnh phúc của các gia đình là động lực
Điều gì làm cho bà lựa chọn con đường nghề y, đặc biệt là hiếm muộn – một ngách khó, khi năm 1997-1998 Việt Nam chưa có gì?
- Tôi đến với nghề y vì truyền thống gia đình. Từ nhỏ, do hoàn cảnh gia đình, mẹ tôi thường đưa chúng tôi theo khi làm việc tại bệnh viện. Tôi có thể nói rằng mình lớn lên trong môi trường bệnh viện, nên việc lựa chọn nghề y đến với tôi khá tự nhiên.
Việc gắn bó với lĩnh vực hiếm muộn lại là một cái duyên. Khi chương trình hỗ trợ sinh sản bắt đầu triển khai tại Bệnh viện Từ Dũ, Ban Giám đốc mời các chuyên gia từ Pháp sang hỗ trợ kỹ thuật. Trong giai đoạn chuẩn bị cho những ca đầu tiên, tôi phụ mẹ mình các công việc như làm hồ sơ, hướng dẫn bệnh nhân tiêm thuốc, theo dõi kích thích buồng trứng. Đến khi thực hiện các ca điều trị, các chuyên gia hỏi ai là người theo dõi bệnh nhân từ đầu, và tôi được mời tham gia trực tiếp vào ê-kíp. Từ khoảnh khắc đó, tôi gắn bó với chuyên ngành này.
Những năm đầu, Việt Nam gần như chưa có nền tảng gì cho điều trị hiếm muộn, trong khi thụ tinh trong ống nghiệm là kỹ thuật liên quan trực tiếp đến sự hình thành của một con người, đòi hỏi yêu cầu rất cao về chuyên môn, điều kiện kỹ thuật, môi trường và đạo đức nghề nghiệp. Thời điểm đó vô cùng khó khăn, lại thêm nhiều ý kiến trái chiều trong bối cảnh chính sách y tế còn tập trung vào kế hoạch hóa gia đình. Điều trị hiếm muộn khi ấy bị xem là điều “xa xỉ”.
Chính mong mỏi rất thật của người bệnh và niềm hạnh phúc của các gia đình đã trở thành động lực để chúng tôi kiên trì theo đuổi con đường này. Tôi vẫn nhớ một cặp vợ chồng người Tày lặn lội đến bệnh viện điều trị. Người vợ nói rằng nếu không có con, chị sẽ không dám trở về quê, bởi ở nơi đó, người phụ nữ không con bị nhìn nhận rất khắc nghiệt. Những câu chuyện như vậy đã thôi thúc tôi gắn bó lâu dài với lĩnh vực hiếm muộn, dù biết đó là một con đường nhiều thách thức.
“Làm gì cũng phải đặt hết tâm sức của mình vào”
Mẹ tôi - GS.BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng, nguyên giám đốc Bệnh viện Từ Dũ - là người ít khi dạy dỗ bằng lời. Những bài học quan trọng nhất mà tôi nhận được không đến từ các bài học đạo đức, mà từ chính cách mẹ sống, cách mẹ làm nghề và đối xử với người xung quanh. Sự nghiêm túc, tận tâm và chuẩn mực trong từng việc nhỏ của mẹ đã ảnh hưởng sâu sắc đến tôi, không chỉ trong nghề nghiệp mà cả trong cuộc sống.

Nếu phải nhắc lại một câu mà mẹ từng nói và tôi luôn ghi nhớ, thì đó là: "Làm gì cũng phải đặt hết tâm sức của mình vào". Câu nói ấy tưởng chừng giản dị, nhưng theo tôi suốt con đường làm nghề y và nghiên cứu khoa học.
PGS.TS.BS Vương Thị Ngọc Lan - Phó Hiệu trưởng Đại học Y Dược TP.HCM.
Đôi nét về PGS.TS.BS Vương Thị Ngọc Lan
PGS.TS.BS Vương Thị Ngọc Lan sinh năm 1971, tốt nghiệp bác sĩ đa khoa Trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch. PGS Ngọc Lan là BS nội trú Sản phụ khoa của Đại học Y Dược TP.HCM khóa 1997-2001. PGS Ngọc Lan nhận bằng Thạc sĩ y học chuyên ngành Phôi học lâm sàng tại ĐH Quốc gia Singapore. Bà bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ y học chuyên ngành sản phụ khoa tại Trường ĐH Y dược TP.HCM và được bổ nhiệm chức danh Phó giáo sư năm 2019.
PGS Vương Thị Ngọc Lan hiện là Phó Hiệu trưởng kiêm Trưởng Bộ môn Phụ Sản, Đại học Y Dược TP.HCM. Trước khi được bổ nhiệm Phó hiệu trưởng Trường ĐH Y Dược TP.HCM, PGS Lan từng giữ vị trí Trưởng khoa Y, Đại học Y Dược TP.HCM.
Bà còn là Tổng biên tập Tạp chí Y học TP.HCM và là thành viên Ban Biên tập của nhiều tạp chí chuyên ngành quốc tế. Năm 2020, PGS Vương Thị Ngọc Lan nhận Giải thưởng Tạ Quang Bửu cho nhà khoa học xuất sắc và được bình chọn là 1 trong 100 nhà khoa học xuất sắc của châu Á bởi Tạp chí Asian Scientist.
PGS Ngọc Lan là tác giả và đồng tác giả của hơn 135 bài báo về y học sinh sản được đăng trên các tạp chí chuyên ngành quốc tế, trong đó có những tạp chí danh tiếng như The New England Journal of Medicine, The Lancet, Human Reproduction, Fertility and Sterility, Human Reproduction Update, Journal of Clinical Endocrinology and Metabolism... và 74 bài báo trên các tạp chí chuyên ngành trong nước.