Y học

TS.BS Lưu Ngân Tâm, Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Chợ Rẫy:Dinh dưỡng - Can thiệp thiết yếu trong chăm sóc và điều trị

Thanh Vy - An Quý 21/02/2026 07:11

Trong bối cảnh béo phì và các bệnh lý mạn tính ngày càng gia tăng, dinh dưỡng đã trở thành một trong những can thiệp thiết yếu nâng cao hiệu quả điều trị. Can thiệp dinh dưỡng đúng và kịp thời không chỉ giúp người bệnh hồi phục nhanh hơn mà còn góp phần giảm biến chứng, và cả nguy cơ tử vong.

Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Phóng viên Tạp chí Khoa học phổ thông - Sống Xanh đã trò chuyện với TS.BS Lưu Ngân Tâm, Trưởng khoa Dinh dưỡng Bệnh viện Chợ Rẫy, Chủ tịch hội nuôi dưỡng đường tĩnh mạch và đường tiêu hoá Việt Nam (VietSPEN), Chủ tịch hội dinh dưỡng lâm sàng TPHCM (HoSPEN) về hành trình khẳng định vị thế của ngành Dinh dưỡng trong Y học lâm sàng.

898181314859916685.jpg
TS.BS Lưu Ngân Tâm, Trưởng khoa Dinh dưỡng Bệnh viện Chợ Rẫy, Chủ tịch hội nuôi dưỡng đường tĩnh mạch và đường tiêu hoá Việt Nam (VietSPEN), Chủ tịch hội dinh dưỡng lâm sàng TPHCM (HoSPEN)

Kiểm soát béo phì - Tăng hiệu quả điều trị

Bệnh viện Chợ Rẫy cùng Hội Nuôi dưỡng đường Tĩnh mạch và Đường tiêu hóa Việt Nam (VietSPEN) vừa tổ chức hội nghị khoa học lần thứ V với chủ đề dinh dưỡng cho người béo phì/suy giảm khối cơ - ứng dụng trong lâm sàng giúp nâng cao hiệu quả điều trị.

BS.CKII Phạm Thanh Việt - Phó Giám đốc Phụ trách Quản lý Điều hành Bệnh viện Chợ Rẫy nhấn mạnh, hiện nay, tỷ lệ béo phì đang gia tăng nhanh chóng và lần đầu tiên trong lịch sử, tỷ lệ trẻ em béo phì đã vượt qua tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng. Tại Việt Nam, tỷ lệ trẻ em thừa cân, béo phì đã tăng từ 8,5% lên đến khoảng 19%, trong khi ở người trưởng thành là khoảng 25%.

Hiện nay, béo phì đã được định danh trong Hệ thống phân loại bệnh tật quốc tế (do Tổ chức Y tế Thế giới - WHO ban hành) như một bệnh lý, bởi nó đi kèm nhiều rối loạn chuyển hóa và là nguyên nhân của nhiều bệnh mạn tính khác. Việc kiểm soát béo phì đang ngày càng khó khăn, điều trị chưa thực sự hiệu quả cũng khiến người bệnh dễ phát sinh biến chứng và phải nhập viện. Điều này đặt ra vấn đề là người béo phì liệu có thực sự đủ dinh dưỡng hay không? - Và câu trả lời có lẽ là chưa. Đặc biệt, tình trạng suy giảm khối cơ ở nhóm bệnh nhân này thường bị “che lấp”, trong khi đây lại là yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả điều trị.

Khi tôi làm nghiên cứu năm 2017 - 2018, tỷ lệ bệnh nhân béo phì nhập viện rất ít. Bệnh nhân có BMI trên 25 chỉ chiếm khoảng 3 - 4% số ca nhập viện. Hiện nay, con số này đã tăng thêm vài phần trăm. Đáng chú ý, nhiều bệnh nhân béo phì ở mức độ rất nặng, có cân nặng lên tới 150 - 180kg, với chỉ số BMI từ 50 - 58, gây nhiều khó khăn trong công tác chăm sóc và điều trị.

Trong điều trị dinh dưỡng, thách thức lớn nhất cho bệnh nhân béo phì là xác định cân nặng và nhu cầu dinh dưỡng phù hợp. Việc áp dụng cân nặng lý tưởng một cách máy móc có thể dẫn đến thiếu năng lượng và protein, trong khi bệnh nhân nặng thường có nhu cầu protein tăng cao do viêm, phân hủy cơ, phẫu thuật, bỏng hoặc các can thiệp hồi sức.

Vì vậy, can thiệp dinh dưỡng cần được cá thể hóa toàn diện, từ chẩn đoán, xác định nhu cầu đến xây dựng chế độ ăn và lựa chọn cơ chất dinh dưỡng phù hợp với từng bệnh lý, đòi hỏi đội ngũ chuyên môn có trình độ cao và nhiều kinh nghiệm.

Phục hồi toàn diện cho người bệnh - Can thiệp dinh dưỡng trong chương trình phục hồi sớm trước, trong và sau mổ của Bệnh viện Chợ Rẫy

Trong chương trình phục hồi sớm trước, trong và sau mổ (ERAS - Enhanced Recovery After Surgery), dinh dưỡng giữ vai trò then chốt, là một trong những yếu tố rất quan trọng giúp người bệnh hồi phục nhanh, giảm biến chứng và rút ngắn thời gian nằm viện.

Khác với quan niệm truyền thống chỉ tập trung vào phẫu thuật, chương trình ERAS nhấn mạnh sự phối hợp đa chuyên khoa. Trong ca phẫu thuật, không thể phủ nhận vai trò quan trọng của bác sĩ phẫu thuật, quyết định tỷ lệ thành công đến hơn 50%. Phần còn lại phụ thuộc vào công tác chuẩn bị, chăm sóc và phục hồi toàn diện cho người bệnh, trong đó có cả can thiệp dinh dưỡng.

Mô hình ERAS đã giúp thay đổi quan niệm: “Can thiệp dinh dưỡng không chỉ bắt đầu sau phẫu thuật mà được triển khai từ giai đoạn trước khi nhập viện”.

Người có bệnh lý nền, hút thuốc lá, suy dinh dưỡng hoặc nguy cơ suy dinh dưỡng cần được tư vấn, đánh giá và điều trị dinh dưỡng sớm. Với những trường hợp như vậy, phẫu thuật có thể cần được trì hoãn 10 - 14 ngày hoặc lâu hơn để điều trị và tối ưu hóa tình trạng dinh dưỡng trước mổ. Từ đó góp phần quan trọng hạn chế nguy cơ biến chứng, rút ngắn ngày nằm viện sau phẫu thuật và giảm nguy cơ tử vong.

Trong giai đoạn chuẩn bị phẫu thuật, ERAS cũng đã thay đổi quan điểm nhịn ăn kéo dài trước gây mê. Theo khuyến cáo hiện hành, người bệnh có thể uống dung dịch đường đặc biệt trước gây mê khoảng 2 giờ, giúp giảm cảm giác khát, lo âu, hạn chế rối loạn chuyển hóa (tăng đường huyết, phân hủy cơ).

Khi triển khai ERAS tại Bệnh viện Chợ Rẫy, thời gian nằm viện sau phẫu thuật lớn, trung bình giảm 2 - 3 ngày; chi phí điều trị sau mổ giảm khoảng 25%. Trong thành công chung đó, dinh dưỡng được xác định là một trong những thành tố quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng điều trị và phục hồi cho người bệnh phẫu thuật lớn.

Can thiệp dinh dưỡng điều trị thành công - Tiết kiệm nhiều chi phí cho bệnh nhân

Đơn cử, khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Chợ Rẫy, đã tiếp nhận điều trị nhiều ca rò dưỡng trấp - tình trạng một loại chất lỏng màu trắng sữa giàu chất béo và protein từ hệ bạch huyết, thoát ra ngoài hệ thống bạch mạch do tổn thương hoặc tắc nghẽn, đặc biệt là rò dưỡng trấp sau phẫu thuật cắt thực quản do ung thư.

3742749007425217802.jpg
Phó Tổng biên tập phụ trách, điều hành Tạp chí Khoa học phổ thông, ThS, Nhà báo Bùi Hương trao đổi với TS.BS Lưu Ngân Tâm, Trưởng khoa Dinh dưỡng Bệnh viện Chợ Rẫy

Thông qua sự phối hợp chặt chẽ giữa các khoa, sự hợp tác của bệnh nhân và người nhà, chỉ bằng chế độ ăn (qua miệng, ống thông ruột non) không quá 150.000 đồng/ngày đã đem đến hiệu quả điều trị tích cực cho bệnh nhân, đóng góp không nhỏ vào sự thành công của gần 70% trường hợp bệnh nhân rò dịch dưỡng trấp. Các bệnh nhân may mắn được xuất viện mà không cần phải can thiệp phẫu thuật hay áp dụng thêm 1 kỹ thuật cao nào. Vì nếu can thiệp bằng kỹ thuật cao hay phẫu thuật, ngoài gánh nặng về chi phí y tế, bản thân người bệnh còn phải đối diện với các rủi ro…

Hay như trong báo cáo “Góc nhìn kinh tế về chương trình ERAS trong Bệnh viện - Cập nhật từ các tài liệu nghiên cứu”, theo PGS.TS Lâm Việt Trung - Phó Giám đốc Bệnh viện Chợ Rẫy, tại Bệnh viện Chợ Rẫy, khi áp dụng ERAS trong phẫu thuật nội soi cắt đại trực tràng, chi phí điều trị trung bình giảm gần 20 triệu đồng trên mỗi bệnh nhân - từ 81,97 triệu đồng trước ERAS xuống còn 62,69 triệu đồng. Trong đó, chi phí do bệnh nhân tự chi trả giảm từ 48 triệu đồng xuống còn 40 triệu đồng, và chi phí do bảo hiểm y tế chi trả giảm từ 33,54 triệu đồng xuống 28,73 triệu đồng.

Không chỉ vậy, thời gian nằm viện cũng được rút ngắn rõ rệt - từ 11,4 ngày trước ERAS xuống còn 7,1 ngày sau ERAS, góp phần làm giảm chi phí giường bệnh, giảm nhu cầu chăm sóc và tăng khả năng xoay vòng sử dụng giường. Thời gian chờ phẫu thuật cũng giảm từ 4,1 ngày xuống chỉ còn 1,4 ngày. Nhờ đó, bệnh viện có thể tiếp nhận thêm bệnh nhân mới, nâng cao công suất sử dụng giường bệnh và tăng hiệu suất hoạt động.

Kiên định với con đường dinh dưỡng lâm sàng

Đó là khi tôi chọn làm bác sĩ dinh dưỡng được khoảng 2 năm, Bệnh viện Chợ Rẫy tiếp nhận một bệnh nhân nam trẻ bị xe máy cày cán qua bụng, phải trải qua nhiều lần phẫu thuật lớn, cắt bỏ phần lớn cơ quan tiêu hóa và rơi vào tình trạng suy dinh dưỡng trầm trọng.

Bệnh nhân từ khoảng 60kg, sau 7 cuộc đại phẫu, giảm còn khoảng 34 - 35kg. Khả năng hấp thu chất dinh dưỡng rất kém do đoạn ruột non còn rất ngắn (40cm), dẫn đến bệnh nhân suy dinh dưỡng rất nặng, suy kiệt, thậm chí kìm hãm cơ chế tự lành của các vết thương.

3517600480779306085.jpg
Tại Bệnh viện Chợ Rẫy, dinh dưỡng giữ vai trò không thể tách rời trong quá trình điều trị và phục hồi cho người bệnh, đặc biệt nhóm bệnh nhân có thể trạng béo phì, nhiều bệnh lý nền, ung thư hoặc bệnh lý nặng.

Tôi quyết định chủ động tham gia hội chẩn và tiến hành xây dựng phác đồ dinh dưỡng phù hợp với tình trạng bệnh lý. Sau một tháng can thiệp, bệnh nhân tăng cân trở lại, vết thương hồi phục. Nhiều năm sau, bệnh nhân đã ổn định cuộc sống, lập gia đình và có con.

Từ những ca như vậy, tôi càng tin rằng nếu không có dinh dưỡng lâm sàng tham gia, kết quả điều trị chưa chắc đạt được như mong muốn. Không chỉ với các ca chấn thương nặng, vai trò của điều trị dinh dưỡng còn thể hiện rõ trong những ca sinh tử như ca Covid 91 (phi công người Anh).

Theo tôi, dinh dưỡng trong điều trị không đơn thuần là ăn uống, mà là một nghệ thuật điều trị bằng thực phẩm, bằng các chất dinh dưỡng, trong đó từng loại thức ăn được lựa chọn như “thuốc”, phù hợp với thể trạng và bệnh lý từng người bệnh. Cách tiếp cận cá thể hóa này giúp người bệnh có đủ năng lượng, tăng khả năng hồi phục và giảm nguy cơ biến chứng sau điều trị.

Sự thành công ấy càng giúp tôi kiên định với nghề suốt nhiều năm qua chính là hiệu quả điều trị thực sự mà dinh dưỡng mang lại cho người bệnh, đặc biệt trong những ca nặng tưởng chừng không còn cơ hội cứu chữa.

Tham gia cùng Bộ Y tế xây dựng chính sách, tài liệu chuyên môn về dinh dưỡng bệnh viện

Với sự ủng hộ và tạo điều kiện từ lãnh đạo Bệnh viện Chợ Rẫy, tôi toàn tâm toàn ý phát triển khoa dinh dưỡng và đóng góp cho sự phát triển chung của bệnh viện. Từ đó, tôi tự hào khi được tham gia cùng Bộ Y tế trong quá trình xây dựng chính sách, thông tư, quy trình kỹ thuật và các tài liệu hướng dẫn chuyên môn về dinh dưỡng bệnh viện, đặc biệt là cơ chế chi trả cho dinh dưỡng điều trị.

Tôi cũng là người sáng lập và giữ vai trò chủ chốt tại Hội nuôi dường tĩnh mạch và đường tiêu hoá (VietSPEN) và hội dinh dưỡng lâm sàng TP.HCM (HoSPEN), góp phần kết nối đội ngũ chuyên môn đa chuyên ngành, nâng cao kiến thức, năng lực chuyên môn và thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành tại Việt Nam.

Hiện nay, hành lang pháp lý cho hoạt động dinh dưỡng trong các bệnh viện gần như đã được đầy đủ, với các quy định cụ thể về vị trí việc làm, chức danh nghề nghiệp và phạm vi hành nghề dinh dưỡng, quy định hoạt động dinh dưỡng… Theo quy định của Bộ Y tế, các cơ sở khám chữa bệnh có trên 100 giường bệnh bắt buộc phải thành lập Khoa Dinh dưỡng, với đội ngũ bác sĩ và cử nhân dinh dưỡng được cấp phép hành nghề...

Can thiệp dinh dưỡng chuyên sâu - Phòng ngừa và giảm tiến triển bệnh nặng

Dinh dưỡng lâm sàng là lĩnh vực rất chuyên sâu, điều trị dựa trên đánh giá, chẩn đoán và can thiệp bằng chế độ dinh dưỡng phù hợp chuyển hóa, bệnh lý và thể trạng.

Chẳng hạn như chế độ ăn Địa Trung Hải với việc tăng cường và thường xuyên ăn cá giàu acid béo oemga 3, rau củ, trái cây, chất béo có lợi như dầu oliu…) giúp giảm nguy cơ tim mạch, bệnh huyết áp, tăng tuổi thọ; hay chế độ sinh ceton với khẩu phần giảm chất bột đường, lượng béo rất cao (phần lớn béo MCT- Chất béo chuỗi trung bình), hàm lượng đạm (protein vừa phải) góp phần tăng hiệu quả điều trị bệnh động kinh kháng thuốc chủ yếu ở bệnh nhi…

Và tại Bệnh viện Chợ Rẫy rất nhiều chế độ dinh dưỡng chuyên biệt được chỉ định trong điều trị nhiều loại bệnh lý (phẫu thuật, ung thư, đái tháo đường, bệnh thận, tiêu hóa…), đã và đang đóng góp vào việc tăng chất lượng điều trị, ngăn ngừa biến chứng liên quan đến dinh dưỡng, tăng khả năng hồi phục của người bệnh.

Trong thời gian tới, tôi sẽ cùng các chuyên gia dinh dưỡng tiếp tục góp phần cùng Bộ Y tế xây dựng và biên soạn các tài liệu hướng dẫn dinh dưỡng lâm sàng, ngày càng nâng cao hiệu quả chăm sóc và điều trị.

Xin cảm ơn TS.BS Lưu Ngân Tâm!

Theo một báo cáo Đại học Harvard, cứ 100 ca tử vong trong ung thư, 20 ca chết do suy kiệt vì thiếu dinh dưỡng trước khi do ung thư phát triển, tương đương 20%, mặc dù các phương pháp điều trị ung thư ngày càng tiên tiến. Điều này chứng tỏ suy dinh dưỡng là yếu tố nguy cơ độc lập các phương pháp điều trị, có thể làm bệnh nhân biến chứng hoặc tử vong trước khi ung thư phát triển.

Thanh Vy - An Quý