Những vị thuốc mang tên “Ngựa”: Bí quyết cho sức khỏe dẻo dai dịp Tết
Trong văn hóa Á Đông, hình tượng con ngựa gắn với sự mạnh mẽ, bền bỉ và may mắn. Mỗi độ xuân sang, lời chúc “mã đáo thành công” như đem theo kỳ vọng về một năm mới hanh thông, sức khỏe dồi dào và công việc thuận lợi. Điều đáng chú ý là trong Đông y có nhiều vị thuốc mang tên “ngựa”, không chỉ gây ấn tượng về mặt hình tượng mà còn chứa đựng những giá trị dược liệu quan trọng trong chăm sóc sức khỏe.
Nhân dịp Tết 2026, bài viết lựa chọn 5 vị thuốc tiêu biểu, kết hợp cả kiến thức y học cổ truyền lẫn y học hiện đại, giúp mọi người hiểu đúng và dùng đúng để bảo vệ sức khỏe trong những dịp Tết Bính Ngọ 2026.
Cá ngựa (Hải mã)
Cá ngựa có tên gọi khác như Hải mã, Thuỷ mã. Tên khoa học là Hippocampus spp. thuộc họ Cá chìa vôi (Syngnathidae). Trong văn hóa dân gian, cá ngựa tượng trưng cho sự bền bỉ và sức mạnh, đồng thời mang ý nghĩa sinh sôi nảy nở, gia đạo hưng thịnh. Vào dịp Tết, việc sử dụng hoặc trưng bày cá ngựa được xem như lời chúc cho một năm mới tràn đầy phúc đức, con cháu sum vầy, công việc thuận lợi có quý nhân hỗ trợ, sức khỏe dồi dào và tinh lực mạnh mẽ như chính hình tượng cá ngựa giữa biển khơi.

Hải mã là dược liệu được chế từ cá ngựa biển phơi khô, thân dẹt và cứng, màu vàng nâu đến trắng ngà. Đầu cong giống đầu ngựa, thân uốn hình chữ S, đốt vân dọc lưng bụng và hai bên sườn hiện rõ. Vị thuốc có mùi đặc trưng của hải sản khô, thường dùng trong các bài thuốc bổ thận, tráng dương và hoạt huyết.
Tác dụng theo Y học cổ truyền
Theo Y học cổ truyền, hải mã có vị ngọt, mặn, tính ôn, không độc, quy vào kinh Thận. Dược liệu có tác dụng bổ thận tráng dương, tăng cường sinh lực, kích thích ham muốn và hỗ trợ điều trị các chứng liệt dương, suy giảm chức năng sinh lý ở nam giới. Hải mã còn có công năng ôn bổ Thủy tạng, ích tinh, giúp cải thiện tình trạng hiếm muộn do dương khí hư suy, đồng thời hoạt huyết, chỉ thống, dùng trong các trường hợp đau bụng do khí huyết trở trệ, hen suyễn, thở khò khè, tiểu són, viêm thận mạn.
Trong thực tế, cá ngựa được dùng dưới dạng bột, hoàn, hoặc rượu ngâm. Dân gian cho rằng sử dụng nguyên cặp cá ngựa đực cái khi ngâm rượu sẽ cho hiệu quả bổ thận, tráng dương tốt hơn.
Tác dụng theo Y học hiện đại
Theo nghiên cứu hiện đại, cá ngựa chứa hàm lượng protein cao, giàu các acid amin thiết yếu như arginin, glycin, alanin, acid glutamic; cùng với đó là steroid tự nhiên, acid béo, phthalate dẫn xuất và các peptid sinh học có tác dụng chống viêm và tăng cường thể lực.
Các công trình nghiên cứu ghi nhận cá ngựa có nhiều hoạt tính sinh học quan trọng, bao gồm: Chống mệt mỏi, tăng sức bền cơ và hỗ trợ phục hồi sau vận động; chống oxy hóa, giúp làm chậm quá trình lão hóa tế bào; chống viêm, giảm đau nhờ các peptid và hoạt chất sinh học; điều hòa hormone, góp phần cải thiện chức năng sinh dục và sức khỏe sinh sản. Cá ngựa còn có tiềm năng hỗ trợ chống khối u và cải thiện tình trạng viêm khớp theo một số nghiên cứu thực nghiệm.
Hiện nay, cá ngựa được ứng dụng rộng rãi trong các sản phẩm hỗ trợ sinh lý nam, bổ thận và tăng cường sức khỏe toàn thân, đặc biệt ở dạng chiết xuất, viên uống hay rượu thuốc.
Một số bài thuốc tham khảo từ cá ngựa
1. Bổ thận, tăng sinh lực, trị yếu sinh lý: Cá ngựa (1 cặp), Khởi tử 12g, Câu kỷ tử 10g, Đại hồi 6g, Dâm dương hoắc 6g; ngâm 1 tháng với 0,5l rượu trắng. Dùng 20 - 30ml/ngày.
2. Hỗ trợ phụ nữ khó có con, nam giới liệt dương: Cá ngựa 30g, Long nhãn 20g, Cốt toái bổ 20g, Nhân sâm 30g. Ngâm 1l rượu 7 - 10 ngày. Uống 20 - 40 ml/ngày (có thể pha mật ong)
3. Chữa thở khò khè: Cá ngựa 5g, Đương quy 10g; sắc 200ml còn 50ml, uống 1 lần trong ngày.
4. Hỗ trợ viêm thận mạn: Cá ngựa 1 con rang giòn, tán bột. Nhồi bột vào quả bầu dục lợn, hấp cách thủy. Ăn 1 lần/ngày trong 15 ngày.
5. Phục hồi cơ thể suy nhược: 1 đôi cá ngựa, 500ml rượu. Ngâm 7 ngày, uống 20ml/lần, 2 - 3 lần/ngày.
Lưu ý
Không dùng cho phụ nữ mang thai, người tăng huyết áp nặng, bệnh tim mạch, người có âm hư nội nhiệt; người cảm mạo, sốt, viêm nhiễm cấp. Không lạm dụng rượu cá ngựa, đặc biệt trong dịp Tết. Người có bệnh nền cần tham khảo bác sĩ trước khi sử dụng.
Cỏ roi ngựa (Mã tiên thảo)
Cỏ roi ngựa có tên khoa học là Verbena officinalis L. thuộc họ Verbenaceae. Cỏ roi ngựa, hay mã tiên thảo, mang tên gọi gợi hình ảnh chiếc roi thúc ngựa tiến bước, mở đường thông suốt. Trong văn hóa dân gian, vị thuốc này được xem như biểu tượng của sự loại bỏ điều xấu, thanh lọc khí trệ và đón nhận nguồn sinh khí mới.

Cỏ roi ngựa là một loài cây nhỏ, sống dai, thân vuông đặc trưng, cao 10 cm - 1 m. Lá mọc đối, xẻ thùy nhẹ; hoa nhỏ màu xanh tím nhạt, mọc thành chùm ở ngọn. Cây mọc hoang rất nhiều ở Việt Nam, đặc biệt tại vùng đất ẩm và ven thôn xóm, dễ tìm, dễ dùng. Bộ phận dùng gồm toàn cây, dùng tươi hoặc phơi, sấy khô.
Tác dụng theo Y học cổ truyền
Cỏ roi ngựa có vị đắng, hơi hàn, quy vào kinh Can, Tỳ, mang các công năng thanh nhiệt giải độc, lợi thủy tiêu phù, hoạt huyết tán ứ, tiêu viêm trừ thấp, khai uất, điều kinh. Dân gian thường dùng cỏ tươi giã nát lấy nước uống và bã đắp ngoài chữa mụn nhọt, sưng vú, hầu bối, hoặc sắc uống, rửa khi bị ngứa vùng kín, lở ngứa, tiêu chướng bụng. Liều dùng thường là 6 - 12g khô hoặc 25 - 50g tươi mỗi ngày.
Công dụng theo Y học hiện đại
Cây chứa các glucosid đặc trưng như verbenalin và verbenin, thân và rễ giàu stachyose, hoa chứa khoảng 20 mg% vitamin C trong mẫu tươi. Một số nghiên cứu cho thấy cỏ roi ngựa có khả năng giúp máu khó đông hơn (theo Holste), hỗ trợ tốt trong các trường hợp sang chấn, viêm nhiễm.
Các nghiên cứu bước đầu ghi nhận nhiều tác dụng đáng chú ý: Kháng khuẩn, kháng virus nhẹ, hỗ trợ điều trị viêm nhiễm đường hô hấp trên; hỗ trợ điều trị sốt rét, giun chỉ, bệnh sán máng; giảm viêm, giảm phù, giúp cải thiện viêm thận, phù thũng, viêm đường tiết niệu; giảm vàng da, cải thiện chức năng gan; điều hòa kinh nguyệt, tăng co bóp tử cung; hỗ trợ cải thiện lỵ amíp. Cỏ roi ngựa dùng ngoài có tác dụng giảm viêm mủ da, loét bìu, sang chấn phần mềm.
Một số bài thuốc tham khảo từ cỏ roi ngựa
1. Sưng vú, mụn nhọt: Mã tiên thảo tươi giã nát, uống nước cốt, bã đắp lên chỗ sưng. Giảm viêm, giảm đau, hỗ trợ thoát mủ.
2. Ngứa vùng kín: 50 - 80g tươi sắc uống, dùng nước rửa ngoài. Áp dụng 3 - 5 ngày.
3. Da lở ngứa, mẩn đỏ: 60 - 80g đun lấy nước tắm. Làm 1 lần/ngày.
4. Viêm miệng, nhiệt miệng: 30g tươi, sắc với 500ml nước, uống thay trà.
5. Kinh nguyệt không đều: Mã tiên thảo 40g, Ngải cứu 20g, Ích mẫu 100g, Cỏ tháp bút 20g; sắc 500ml nước, chia 2 lần uống. Dùng trước kỳ kinh 10 ngày.
6. Đau bụng kinh: Mã tiên thảo, Huyền sâm, Bạch thược, Sinh địa, Địa cốt bì, Xuyên luyện tử, Nữ trinh tử mỗi loại 15g, Cỏ nhọ nồi 10g, Uất kim 6g, Mẫu đơn bì 8g, sắc 300ml, uống 2 lần/ngày.
Lưu ý
Không dùng cho phụ nữ mang thai vì có thể làm tăng co bóp tử cung. Người tỳ vị hư hàn, dễ lạnh bụng, tiêu chảy không nên dùng. Không lạm dụng kéo dài quá 10 -14 ngày nếu không có chỉ định chuyên môn.
Mã đề (Xa tiền thảo)
Mã đề có tên gọi khác như Xa tiền, Mã đề thảo, Nhà én, Dứt (Thái), Su Ma (Thổ). Tên khoa học là Plantago asiatica L. (Hoặc Plantago major L. var. asiatica Decaisne) thuộc họ Plantaginaceae. Theo điển tích cổ, cây thường mọc dưới vết chân ngựa kéo xe, nên dân gian gọi là “mã đề” dấu chân ngựa. Trong Đông y, loại thảo dược này được xem như vị thuốc giúp thanh lọc, dẫn đường và làm sạch từ trong ra ngoài.

Mã đề là loại cỏ sống lâu năm, lá mọc thành cụm ở gốc, phiến lá hình thia, gân song song từ gốc đến ngọn. Cụm hoa dạng bông, dài, mọc từ nách lá; hạt nhỏ màu nâu đen, lấp lánh như hạt mè. Bộ phận dùng gồm Xa tiền tử (hạt mã đề), Mã đề thảo (toàn cây trừ rễ), Lá mã đề dùng tươi hoặc phơi khô.
Tác dụng theo Đông y
Mã đề có vị ngọt, tính hàn, không độc. Quy kinh Can, Thận, Tiểu trường. Công năng lợi thủy thông lâm, chữa tiểu buốt, tiểu dắt, tiểu ít, thanh phế hóa đờm, giảm ho lâu ngày, thanh can minh mục, giảm đau mắt đỏ, chỉ tả, giảm tiêu chảy, hỗ trợ sinh nở, chữa đẻ khó.
Mã đề được dùng nhiều nhất để thông tiểu, điều trị viêm đường tiết niệu, ho có đờm, lỵ, và các chứng mắt đỏ, chảy ghèn. Liều dùng 6 - 12g dạng thuốc sắc mỗi ngày.
Tác dụng theo Y học hiện đại
Thành phần plantagin giúp tăng tiết dịch phế quản và dịch tiêu hóa, làm dịu ho, long đờm. Tác dụng trên trung khu hô hấp, giúp nhịp thở sâu và đều hơn. Nước sắc mã đề có khả năng ức chế một số vi khuẩn da. Bột mã đề trộn dầu dùng ngoài giúp giảm viêm mủ, giảm sưng nóng đỏ. Khi xử lý theo phương pháp Filatov (giữ lạnh, tối), lá mã đề có thể tạo ra biostimulin, dùng tiêm dưới da điều trị mụn nhọt, viêm họng, bệnh mắt.
Một số bài thuốc tham khảo từ mã đề
1. Thuốc lợi tiểu, thanh nhiệt: Xa tiền tử 10g, Cam thảo 2g. Sắc 600ml còn 200 ml, chia 3 lần.
2. Chữa ho, tiêu đờm: Xa tiền thảo 10g, Cam thảo 2g, Cát cánh 2g. Sắc 400ml còn 150 ml, chia 3 lần.
3. Giảm mắt đỏ, chảy ghèn: Lá mã đề tươi giã vắt lấy nước, pha loãng với nước sôi để nguội để rửa.
Lưu ý
Không dùng cho người tỳ vị hư hàn, tiểu đêm nhiều, huyết áp thấp. Không dùng kéo dài, tránh mất điện giải do lợi tiểu mạnh. Trẻ em uống nhiều dễ đái dầm ban đêm.
Tang phiêu tiêu (Ổ bọ ngựa)
Ổ bọ ngựa có tên gọi là Tang phiêu tiêu. Tổ trứng của bọ ngựa sống trên cây dâu tằm. Tên khoa học là Ootheca Mantidis. Tang phiêu tiêu trên thân cây dâu mang tên gọi mộc mạc nhưng hàm chứa ý nghĩa sâu sắc. Trong Đông y, vị thuốc này biểu trưng cho sự bền bỉ, tích lũy và bảo tồn sinh lực, giống như cách bọ ngựa tạo kén để nuôi dưỡng mầm sống mới.

Tang phiêu tiêu là tổ trứng màu nâu vàng, hình bầu dục, đường kính 1,5 - 3cm, dài 2 - 5cm. Cấu trúc xốp, nhẹ, nhiều ngăn nhỏ. Khi đốt khó cháy ngọn, chỉ cháy âm ỉ. Dược liệu thường được thu hái khi tổ bọ ngựa đã rỗng.
Tác dụng theo Đông y
Ổ bộ ngựa tính vị ngọt, mặn, tính bình, quy kinh Thận, Can. Công năng của ổ bọ ngựa gồm bổ thận, cố tinh, ích tinh, thông kinh hoạt lạc, lợi thủy thông lâm. Chủ trị di tinh, mộng tinh, xuất tinh sớm, liệt dương, đái dầm, đái són, đau lưng mỏi gối do thận hư, phụ nữ tiểu khó, tiểu són, một số trường hợp sa tử cung. Tang phiêu tiêu được mệnh danh là “vị thuốc của nam giới yếu thận”, thường gặp trong các toa bổ thận dương.
Tác dụng theo Y học hiện đại
Tang phiêu tiêu giàu protein dễ hấp thu, lipid, acid amin. Chứa enzym hoạt hóa tế bào. Tác dụng hỗ trợ nội tiết sinh dục, cải thiện chức năng sinh lý. Tăng trương lực cơ sàn chậu, hỗ trợ chứng tiểu són, đái dầm. Tác dụng tăng trương lực cơ và cải thiện thần kinh cơ vùng niệu sinh dục.
Một số bài thuốc tham khảo từ tang phiêu tiêu
1. Liệt dương, xuất tinh sớm: Tang phiêu tiêu sao vàng, Mẫu lệ. Tán bột, uống trước ngủ 3 ngày liên tục. Hoặc bài hoàn: Tang phiêu tiêu, Tỏa dương, Long cốt, Nhục thung dung, Bạch phục linh mỗi vị 40g; làm hoàn mật, uống 9g x 2 lần/ngày.
2. Di tinh, hoạt tinh: Tang phiêu tiêu sao vàng, Long cốt tán bột, uống 2 lần/ngày x 7 ngày.
3. Đái dầm, đái són: Tang phiêu tiêu 10g, Long cốt 15g, sắc uống. Hoặc tán bột Tang phiêu tiêu, Ích trí nhân, Kim anh, uống 8 - 10g/lần.
4. Cao lâm: Tang phiêu tiêu sao vàng, tán mịn, uống 1 tổ/lần với nước ấm.
5. Tiểu són phụ nữ: Tang phiêu tiêu sao rượu, tán nhỏ, uống 8g/lần với nước gừng.
6. Tiểu són khi mang thai: Tang phiêu tiêu sao vàng 10 tổ, tán nhỏ, uống với nước cơm.
7. Sa tử cung: Tang phiêu tiêu 50g, Hoàng kỳ 15g, cho vào dạ dày lợn, khâu kín, hấp cách thủy, chia 3 lần ăn. Dùng 2 lần/tuần, cách nhau 4 ngày.
Lưu ý
Không dùng cho người tiểu khó do tắc nghẽn cơ học. Không dùng cho phụ nữ mang thai. Người huyết nhiệt, âm hư, dễ nóng trong cần thận trọng.
Ké đầu ngựa (Thương nhĩ tử)
Ké đầu ngựa có tên gọi khác là Xương nhĩ, thương nhĩ tử, thương nhĩ, mac nháng (Tày), phắc ma. Tên khoa học là Fructus Xanthii strumarii. Thuộc họ Cúc (Asteraceae). Ké đầu ngựa có hình dạng đặc trưng quả nhỏ, hình trứng, màu nâu vàng, phủ đầy gai móc cong như “đầu ngựa”, dễ bám vào quần áo và lông động vật. Chính đặc điểm này gợi ý nghĩa bám vững, kiên trì, xua tan trở ngại, một hình tượng thú vị trong dân gian.

Là loại cây thân thảo có chiều cao từ 50 - 80cm. Thân cây hình trụ có màu lục và lông cứng. Lá hình tim tam giác, mọc so le với chiều dài 4 - 10cm và rộng 4 - 12cm. Cụm hoa mọc đầu cành hoặc ở kẽ lá, có màu lục nhạt. Quả bế đôi có hình trứng, ở đầu có hai sừng nhọn và xung quanh phủ đầy gai móc. Chiều dài của quả 12 - 15mm và rộng 7mm. Dược liệu thường được thu hái khi quả chín, bỏ gai cứng trước khi dùng để tránh kích ứng. Bộ phận dùng là Quả. Dạng bào chế: Sao vàng.
Tác dụng theo Y học cổ truyền
Quả Ké đầu ngựa có vị ngọt nhạt, hơi đặng, tính ấm, có ít độc, quy kinh Phế. Công năng là trừ phong thấp, tiêu độc, tán phong thông khiếu. Chủ trị đau khớp, chân tay tê dại co rút; viêm mũi, viêm xoang; mụn nhọt, mẩn ngứa. Ngày dùng từ 6g đến 12g, dạng thuốc sắc, hoặc hoàn. Thường phối hợp với một số vị thuốc khác. Kiêng kỵ, thận trọng: Đau đầu do huyết hư không nên dùng.
Tác dụng theo Y học hiện đại
Quả Ké đầu ngựa chứa một số chất như sequiterpen lacton (xanthinin, xathanin và xanthumin), iod hữu cơ. Còn phần rễ có nhiều stigmasterol và sitosterol. Toàn cây còn chứa rất nhiều đạm, là một nguồn phân hữu cơ dồi dào. Một số tác dụng đáng chú ý: Hạt ké đầu ngựa có chứa rất nhiều hoạt chất sitosterol-D-glucoside, công dụng loại bỏ các loại vi khuẩn gây viêm nhiễm và ức chế sự tăng sinh, hình thành vi khuẩn.
Hoạt chất xanthumin có công dụng giảm thiểu mệt mỏi, căng thẳng, ức chế hệ thần kinh trung ương giúp người bệnh cảm thấy thư thái, nhẹ nhàng hơn khi sử dụng, giúp kháng khuẩn và chống viêm mạnh mẽ, thúc đẩy nhanh quá trình làm lành vết thương, điều trị mụn nhọt và lở loét ngoài da. Điều trị hiệu quả tình trạng nghẹt mũi, hắt hơi, chảy nước mũi và những biểu hiện khó chịu khác của bệnh viêm xoang nhờ hoạt chất kháng sinh, ngăn ngừa virus, hạn chế tổn thương và bảo vệ niêm mạc mũi.
Một số bài thuốc tham khảo từ ké đầu ngựa
1. Chữa đau răng: Sắc nước quả Ké, ngậm lâu lại nhổ. Ngậm nhiều lần.
2. Mũi chảy nước trong, đặc: Quả Ké sao vàng tán bột. Ngày uống 4 - 8g.
3. Chữa thủy thũng, bí tiểu tiện: Thương nhĩ tử, Thiêu tồn tính, đình lịch. Hai vị bằng nhau, tán nhỏ. Uống với nước mỗi lần 8g, ngày hai lần.
4. Chữa bướu cổ: Ngày uống 4 - 5g quả hay cây Ké dưới dạng thuốc sắc (đun sôi, giữ sôi 15 phút).
5. Chữa phong thấp, tê đau, tay chân co rút: Quả Ké đầu ngựa 12g, giã nát sắc uống. 6. Chữa phong thấp, đau khớp, tê dại đau buốt nửa người hoặc tay chân lở ngứa, ra mồ hôi, viêm xoang, chảy nước mũi, đau nhức trán, hay đau ê ẩm trên đỉnh đầu: Ké đầu ngựa 12g, Kinh giới, Bạch chỉ mỗi vị 8g, Xuyên khung, Thiên niên kiện mỗi vị 6g, sắc uống.
7. Ápxe sâu: Ké đầu ngựa 50g, Thài lài 30g giã bắp.
8. Chữa các bệnh phong, dị ứng gan, mẩn ngứa, mày đay: Ké đầu ngựa 15g, Kinh giới bông 10g, Muồng trâu 15g, Bạc hà 10g, Cỏ hôi 10g, Bèo tai tượng 15g, Chổi đực 10g, Nghể bà 10g. Các vị hiệp chung 1 thang, đổ một bát nước sắc còn 8 phân, uống ngày 1 thang.
Lưu ý
Không dùng cho trẻ em, phụ nữ có thai và đang cho con bú. Khi dùng Ké đầu ngựa, người bệnh nên kiêng thịt ngựa và thịt lợn vì đối với những trường hợp mẫn cảm có thể gặp tình trạng nổi quầng trên da. Không dùng Ké đầu ngựa khi đang bị nhức đầu do khí huyết kém hoặc cây đã mọc mầm. Thành phần của thuốc hoặc thực phẩm chức năng có thể xảy ra tương tác với hoạt chất trong ké đầu ngựa.
Những vị thuốc mang tên “ngựa” không chỉ lưu giữ giá trị văn hóa dân gian mà còn đem lại nhiều lợi ích cho sức khỏe khi được sử dụng đúng cách. Trong dịp Tết, thời điểm ăn uống phong phú, sinh hoạt thất thường, việc hiểu rõ đặc tính của từng vị thuốc sẽ giúp người dân chủ động chăm sóc cơ thể, giảm gánh nặng cho gan, thận và hệ tiêu hóa. Tuy nhiên, thảo dược không nên dùng theo trào lưu, đặc biệt ở những trường hợp có bệnh nền, việc tham khảo ý kiến bác sĩ y học cổ truyền là vô cùng cần thiết.
Bên cạnh giá trị y học, những vị thuốc mang tên “ngựa” còn hàm chứa biểu tượng đẹp như sức mạnh, tốc độ, sự bền bỉ và tinh thần vượt khó đi tới. Nhân dịp năm mới Bính Ngọ 2026, xin gửi lời chúc sức khỏe dồi dào như chiến mã, tinh lực bền bỉ và tràn đầy năng lượng; công việc hanh thông, tiến bước như ngựa phi; gia đạo an hòa, phúc lộc viên mãn đúng như ý nghĩa tốt lành mà các vị thuốc mang tên “ngựa” đã gửi gắm trong kho tàng Y học cổ truyền Việt Nam.