Mạch môn đông và bệnh thiếu máu cơ tim

Y học - Ngày đăng : 09:44, 22/05/2010

Định danh: Mạch môn đông (Opiophogon japonicum) thuộc họ Liliaceae. “Opiophogon” có nghĩa là da rắn, người Hoa gọi nó là Xà thảo nhật. Theo sách dược liệu Trung Quốc bảng tiếng Anh của Dan Benski, Mạch môn đông dịch là “Lush winter wheat” có nghĩa là cây giống lúa mạch xanh tốt trong mùa đông. Cây này đã được di thực trồng ở miền Bắc nước ta và Đà Lạt, nay được trồng rải rác khắp nơi như một cây thuốc và cây cảnh.<_o3a_p>

Giới thiệu

Clopidoprel là thuốc chống kết cụm tiểu cầu, tác dụng lên thụ thể khác với aspirin. Tại Âu Mỹ, Clopidoprel được chỉ định cho bệnh thiếu cơ tim hay thiếu máu não, dùng cho bệnh nhân cần nong động mạch vành. Thuốc này cũng có nhập vào Việt Nam dưới tên Clopidropret nhưng không phổ thông.

Trong khi đó ở Trung Quốc người ta dùng Shengmai san (sâm mạch tán) gồm Nhân sâm, Mạch môn đông và Ngũ vị tử cho bệnh thiếu máu cơ tim và họ bảo có kết quả tốt. Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu đặc tính của Mạch môn đông và Ngũ vị tử.

Thành phần hóa học: Theo Viện nghiên cứu hóa học, Đại học Thiên chúa giáo Đài Loan, có 5 homoisoflavonoid và 6 hợp chất đã biết được cô lập từ cao cồn củ Mạch môn đông. Phân tích quang phổ dùng để xác định cấu trúc của các chất này (Chang JM và cộng sự).

Theo Viện hóa học, Trung tâm quốc gia nguồn tài nguyên thiên nhiên và kỹ thuật ở Cầu Giấy - Hà Nội, từ cao ethylacetat củ Mạch môn đông, người ta đã trích ra 8 hợp chất đã biết và 5 homoisoflavonoid mới. Những hợp chất mới là 5,7-dihydroxy-8-methoxy-6-methyl-3-(2’-hydroxy-4’-methoxybenzyl) chroman-4-one (1), 7-hydroxy-5,8-dimethoxy-6-methyl-3-(2’-hydroxy-4’methoxybenzyl) chroman-4-one (2), 5,7-dihydroxy-6,8-dimethyl-3-(4’-hydroxy-3’-methoxybenzyl) chroman-4-one (3), 2,5,7-trihydroxy-6,8-dimethyl-3-(3’,4’-methylenedioxybenzyl) chroman-4-one (4), và 2,5,7-trihydroxy-6,8-dimethyl-3-(4’-dimethoxybenzyl) chroman-4-one (5). Cấu trúc được xác định bằng quang phổ khối và NMR. Hợp chất 4 và 5 là những homoisoflavonoid đầu tiên được cô lập có chức hemiacetal ở vị trí 2 (Hang-Anh NT, Van Sung T và cộng sự).

Chức năng và sử dụng lâm sàng

Nuôi dưỡng âm và làm tan nhiệt: dùng cho người âm suy với triệu chứng nhiệt hay sốt làm hư thủy, đặc biệt kèm theo bứt rứt và khát.

Làm ẩm phổi và trị ho: dùng bất cứ lúc nào phế âm hư, với các dấu hiệu như ho khan, đàm đặc khó nhổ ra ngoài, ho ra máu.

Làm ẩm ruột non: trị táo bón, khô miệng và bứt rứt sau cơn sốt hay do âm hư.

Dược tính

Mạch môn đông tăng lưu lượng máu qua động mạch vành, tạo tác dụng ức chế Na/K-ATPase như strophantin, tăng sức co bóp cơ tim. Cây này cũng tăng sức chịu đựng do thiếu oxy, tăng chậm áp huyết và có tính kháng khuẩn.

Thử nghiệm 101 bệnh nhân đau thắt ngực cho thấy 74 hay 84% đáp ứng hữu hiệu với cây thuốc. Triệu chứng cải thiện và tâm động đồ thay đổi, tác dụng phụ thường gặp là căng bụng, bụng đầy hơi và tiêu chảy.

Kết hợp chính:

Với rễ Bán hạ (Rhizoma pinella ternata) và rễ Đảng sâm (Codonopsis pilosulae) khi bị ho khan kéo dài do âm suy.

Với rễ Địa hoàng (Rehmania glutinosa) và Huyền sâm (Scrophulariae ningpoensis) để trị khát, táo bón, bứt rứt, sốt thấp và hư hại trầm trọng thủy dịch, suy tim, tình trạng đau tim nặng.

Với Nhân sâm, Ngũ vị tử khi nhồi máu cơ tim, toát mồ hôi (xuất hạn) nhiều, khò khè, tăng nhịp tim, kiệt lực kèm theo suy tim và phổi. Hợp chất này dùng cho triệu chứng mất nước trong mùa viêm nhiệt. Dùng lâu dài trong thiếu (nhồi) máu cơ tim.

Với Hoàng kỳ, Đương quy và Ngũ vị tử để trị bứt rứt do mất nước vì ra mồ hôi, thiếu máu, suy tim.

Nghiên cứu

Tác dụng nội tiết: uống cao nước hay cao cồn Mạch môn đông giảm lượng glucose huyết ở thỏ. Trong một thí nghiệm, cây này giảm mức glucose huyết, giúp tiểu đảo Langerhans chóng bình phục, tăng tồn trữ glycogen ở thỏ khi gây bệnh tiểu đường nhân tạo, so với nhóm kiểm chứng.

Tác dụng kháng sinh: bột củ Mạch môn đông, thoa ngoài da, ức chế Staphylococcus albus và E. coli.

Tác dụng của Đan sâm và Nhân sâm + Mạch môn lên xơ cứng cầu thận gây ra bởi adiamycin ở chuột lớn:

Mục tiêu: điều tra tác dụng của Đan sâm (Salvia plectranthoides) và Nhân sâm (Panax ginseng), Mạch môn (Ophiopogon japonicus) và Ngũ vị tử (Schizandra sinensis) lên xơ cứng cầu thận gây ra bởi adiamycin ở chuột lớn SD.

Phương pháp: lấy thận trái của vật thí nghiệm và sau 7 ngày, tiêm adiamycin vào tĩnh mạch đuôi (6 mg/kg), để gây bệnh cho động vật. Tiếp theo tiêm Đan sâm hay Nhân sâm Mạch môn vào ổ bụng của chuột. Tất cả chuột đều bị giết ở tuần lễ thứ 8. Hemoglobin, BUN, cholesterol và protein trong nước tiểutrong 24 giờ. Tiêm mạch collagen và laminin của vỏ thận được xác định bằng phương pháp ELISA. Định lượng IV collagen và laminin vùng cầu thận (glomerular mesangial area) được phân tích bằng hình ảnh trên vi tính.

Kết quả: so với nhóm dùng Đan sâm (nhóm III), nhóm dùng Nhân sâm Mạch môn đông (nhóm IV) và nhóm kiểm chứng, BUN và cholesterol và protein trong nước tiểu 24 giờ tăng rõ rệt và hemoglobin bị hạ thấp ở nhóm kiểm soát (nhóm II). Trị số BUN, cholesterol và protein trong nước tiểu thấp hơn ở nhóm III và IV so với nhóm II và cao hơn ở nhóm I. Định lượng IV collagen và laminin trong vỏ thận và vùng mesangial ít hơn ở nhóm III và IV so với nhóm II và cao hơn nhóm I.

Kết luận: Đan sâm và Nhân sâm Mạch môn có thể đóng vai trò quan trọng trong việc điều trị xơ cứng cầu thận ở chuột lớn (Peng Y và cộng sự, khoa nội Đại học y khoa Hồ Nam).

Phòng ngừa và sửa chữa thiếu máu cục bộ não (cerebral ischemia) ở chuột lớn bằng Nhân sâm Mạch môn tán:

Tính chất bảo vệ của Nhân sâm Mạch môn tán, thuốc y học cổ truyền Trung Quốc, được nghiên cứu tái tạo lưu thông máu do thiếu máu cục bộ não ở chuột lớn. Hợp chất này thường dùng để chữa bệnh động mạch vành. Khi tiêm trực tiếp hợp chất này vào ruột chuột 2 giờ trước khi thiếu máu cục bộ não bằng cách làm nghẽn hai bên mạch carotid. Chất phản ứng thiobarbituric acid sinh ra sau khi thiếu máu cục bộ hầu như hoàn toàn biến mất trong não. Sự mất hoạt động của glutathione peroxidase sau khi bị thiếu máu cục bộ cũng được ngăn ngừa khi cho dùng trước Nhân sâm Mạch tán. Hợp chất này cải thiện hư hại do oxy hóa trong não. Tuy nhiên khi cho dùng riêng rẽ từng thành phần của hợp chất này, không có chất nào bảo vệ tránh cho não khỏi bị hư hại (Xuejiang W. và cộng sự, phân khoa vật lý sinh học, hóa hạt nhân Đại học Niigata Nhật Bản).

Một nghiên cứu khác của Ichikawa H. và cộng sự cũng ở Đại học Niigata, cho biết tác dụng ngăn thành lập thiobarbituric acid reactive của Mạch môn đông hay kết hợp Nhân sâm Mạch tán đều yếu, nhưng tác dụng bảo vệ không cho mất glutathione peroxidase rất tốt, nên người ta nghĩ Mạch môn đông hay Nhân sâm Mạch tán ngăn ngừa được sự hư hại do các chất oxy hóa sinh ra khi bị thiếu máu cục bộ.

Tác dụng cải thiện tri thức với chuột lớn bị mất trí nhớ (amnesia) do scopolamin hay MK-801: nghiên cứu tác dụng của cây Ngưu tất (Achyranthes bidentata), củ Mạch môn đông (Ophiopogon japonicum), và cây Giần sàng (Xà sàng tử - Cnidium monnieri) với chuột bị mất trí nhớ khi thực hiện trắc nghiệm tránh thụ động (passive avoidance). Những dược liệu trên ở liều 0,1 và 0,3 g/kg kéo dài và làm ngắn thời gian mất trí nhớ do MK-801, nhưng chỉ có cây Ngưu tất làm ngắn thời gian tác dụng của scopolamin. Kết luận những cây này tăng cường tri thức và chống mất trí nhớ, nhưng cơ chế tác dụng của Ngưu tất khác hai cây kia (Lin YC và cộng sự, Viện nghiên cứu dược học Trung Quốc ở Đài Trung, Đài Loan).

Cách dùng

Nước sắc 10 ml tương đương với 15 g nguyên liệu thô uống ngày 3 lần trong 3 đến 18 tháng để bổ âm.

Thuốc tiêm, 2 ml tương đương với 4 g nguyên liệu thô tiêm bắp hay tiêm mạch.


DS. LÊ VĂN NHÂN - DS. PHAN BẢO AN