Nấm Linh chi: huyền thoại và sự thật

Y học - Ngày đăng : 17:58, 02/11/2011

Khoa Học Phổ Thông, khoa học, tạp chí, tin tức

 Thần nông bản thảo kinh ra đời cách đây 2.000 năm đề cập đến 365 dược thảo thì Linh chi thảo xếp vào loại thượng dược, ở vị trí số 1 sau đó mới đến Nhân sâm. Thần nông bản thảo kinh phân biệt Linh chi thảo theo màu sắc: đỏ (Xích chi), vàng (Hoàng chi), đen (Hắc chi), tím (Tử chi), trắng (Bạch chi), xanh (Thanh chi)… Có thuốc bào chế từ 6 loại nấm Linh chi này gọi là “Lục bảo Linh chi”. Đến thời nhà Minh, Lý Thời Trân viết Bản thảo cương mục gồm 2.000 loại thuốc thì Linh chi vẫn được xếphàng đầu. Ông viết: “Linh chi dùng lâu người nhẹ nhàng, lâu già, sống lâu như thần tiên”. Đây là một loại thảo dược rất khó gặp trong thiên nhiên, chỉ mọc ở những nơi rừng rậm, núi cao, hoang vu vào một thời điểm nhất định, và sau đó sẽ tàn lụi, nếu không có phúc phận lớn sẽ không gặp được, khi gặp được Linh chi thì cả vùng mở hội ăn mừng và dược thảo này sau đó được đem tiến vua do đó rất ít ai nhìn thấy tận mắt và các nhà giàu có vẫn không được dùng.

Tương truyền Tần Thủy Hoàng sai Lư Sinh và 500 đồng nam, đồng nữ ra biển Đông tìm Linh chi. Họ ra đi mà không trở về vì không tìm được nấm, nên ở lại các hòn đảo ngoài biển và trở thành tổ tiên của người Nhật hiện nay. Người Nhật đặt tên cho Linh chi là Manentake nghĩa là nấm vạn năm và nếu ai ăn được nó sẽ được trường sinh  bất tử.

Ngoài ra sử còn chép rằng khi đãi sứ thần các nước, Từ Hy thái hậu đã sai làm 365 món ăn trong 7 ngày đêm, mỗi ngày có một món đặc biệt nhất thì ngày đầu tiên là Linh chi. Như vậy Linh chi đã được truyền tụng từ ngàn xưa cho đến nay và theo các sách kinh điển thì Linh chi có tác dụng làm trẻ hóa, sống lâu và ngừa được bách bệnh.

Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác cũng viết: “Linh chi là nguồn sản vật quý hiếm của đất rừng Đại <_st13a_place w:st="on"><_st13a_country-region w:st="on">Nam”.

Nghiên cứu khoa học hiện đại

Theo nghiên cứu của Viện dược liệuViệt <_st13a_place w:st="on"><_st13a_country-region w:st="on">Nam, nước sắc Linh chi làm giảm đường huyết (do các glycan A, B, C). Trên lâm sàng sơ bộ thấy Linh chi có tác dụng trong các chứng đau thắt ngực, bệnh động mạch vành, huyết áp dao động, viêm phế quản, hen suyễn, viêm gan mạn tính, thấp khớp, lão hóa, suy nhược cơ thể, sa sút trí nhớ, rối loạn tiền mãn kinh. Lượng germanium trong Linh chi giúp khí huyết lưu thông tốt, giúp tế bào hấp thu oxy tốt hơn. Các polysaccharid trong Linh chi giúp tăng cường hệ miễn dịch nên giúp ngừa được nhiều bệnh kể cả ung thư mới khởi phát. Acid ganoderic có tác dụng kháng viêm, chống dị ứng.

Ngày nay, các nhà khoa học đã xác định Linh chi là một loài nấm có tên khoa học là Ganoderma lucidum Leyss ex Fr. Karst. Tên thông dụng là Linh chi (Việt <_st13a_place w:st="on"><_st13a_country-region w:st="on">Nam), Lingzhi (Trung Quốc), Reishi (Nhật Bản). Nấm có màu đỏ, hiện nay có khoảng 45 thứ (variété) Linh chi được xác định, nghĩa là chỉ Linh chi đỏ ta đã có 45 loại có màu sắc khác nhau thay đổi từ vàng cam đến cam, đỏ cam, đỏ, đỏ sậm, đỏ tía… Ngoài ra còn có Linh chi đen (Ganoderma sinense), Linh chi tím (Ganoderma japonicum) là 2 loài hoàn toàn khác Linh chi đỏ. Các loài Linh chiđược xếp vào một họ riêng là họ nấm Linh chi Ganodermataceae trong đó chi Ganoderma có rất nhiều loài, khoảng 50 loài. Do vậy Linh chi đỏ được gọi là Linh chi chuẩn để phân biệt với những loài khác cùng chi Ganoderma nhưng không phải là Linh chi thật sự, và khi nói đến Linh chi tức là đề cập đến Linh chi đỏ (Ganoderma lucidum). Đây là loại Linh chi tốt nhất trong các loài thuộc họ Linh chi. Cho đến nay chưa ai thấy Linh chi trắng và Linh chi xanh thuộc chi Ganoderma trong họ Ganodermataceae mà chỉ mới thấy Linh chi đỏ, Linh chi đen, Linh chi tím, Linh chi vàng. Ngoài ra các nhà khoa học Nhật Bản còn cho rằng trồng trong một số điều kiện khác nhau, Linh chi sẽ có màu khác nhau.

Về nghiên cứu, trên thế giới hiện nay các nước và vùng lãnh thổ có truyền thống nghiên cứu Linh chi là ở ven bờ Thái Bình Dương như: Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Việt Nam, Đài Loan, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, và gần đây có các nước khác quan tâm nghiên cứu như: Cộng hòa liên bang Đức, New Zealand, Nam Phi, Australia… Các nước châu Âu tập trung quan tâm nghiên cứu hệ thống phân loại, tiến hóa phát sinh, các nước châu Á tập trung vào công nghệ nuôi trồng, khảo sát thành phần hóa học, tác dụng dược lý, lâm sàng, các chế phẩm. Tất nhiên, nước nào cũng có những khảo sát toàn diện dựa trên thế mạnh của mình.

Năm 1997 sản lượng Linh chi được thống kê trên thế giới như sau: 4.300 tấn trong đó Trung Quốc 3.000 tấn. Sản lượng Linh chi trên thế giới đến nay chắc chắn đã tăng lên rất nhiều nhưng chưa có số liệu thống kê chính xác. Hàn Quốclà nước sản xuất Linh chi nhiều thứ hai, với 1.307 tấn năm 1998. Các cuộc hội thảo quốc tế về Linh chi cũng được tiến hành đều đặn vào năm 1994 ở Trung Quốc, 1996 ở Đài Loan, 1997 ở Nhật Bản, 2001 ở Mỹ, New Zealand, 2002 ở Trung Quốc. Tại các cuộc hội thảo quốc tế, các nhà khoa học đã càng ngày càng làm sáng tỏ và chứng minh giá trị của những truyền thuyết về loài nấm kỳ diệu này.

Thành phần hóa học của Linh chi

Cho đến nay, thành phần hóa học của Linh chi đã được các nhà khoa học phân tích khá kỹ càng với các phương tiện hiện đại như: HPLC, sắc ký khí, UV, IR, NMR... cho thấy có gần 150 hoạt chất và dẫn chất có trong Linh chi bao gồm acid amin, các acid hữu cơ, các acid béo, terpenoid, alkaloid,polysaccharid, protein, glycoprotein,các khoáng đại lượng và vi lượng…

* Nhóm triterpen: phần lớn nhóm triterpen của Linh chi có cấu trúc thuộc nhóm lanostan và đã được các nhà khoa học xác định hơn 119 nhóm triterpenoid, bao gồm các acid ganoderic A, B, C, D, E, F... Acid lucidenic A, B, C, D1, D2... Acid ganoderenic A, B, C, D, E,ganoderiol...

* Nhóm polysaccharid gồm: beta (1- 3)-D-glucan, các peptido-glycan như ganoderan B, C…

* Nhóm steroid như: ergosterol, ganodesterol.

* Nhóm nucleosid như: adenosin, guanosin.

* Nhóm các nguyên tố đại và vi lượng: trong đó có những khảo cứu và làm giàu germanium của Trung Quốc. Các nhóm trên hiện diện trong hệ sợi nấm, trong quả thể (nấm) và cả trong bào tử của nấm với hàm lượng khác nhau. Trong đó, được chú ý hơn cả là nhóm saponin triterpen với các acid ganoderic và nhóm polysaccharid với beta (1-3)-D-glucan với khả năng phòng chống các tế bào ung thư.

Khả năng chống oxid hóa, chống lão hóa của nấm Linh chi, nhiều khảo cứu cho thấy vai trò của các saponin-triterpen và các polyphenol.

Trung Quốc đã chứng minh khả năng khử gốc tự do hydroxyl của G. lucidum và khả năng chống lão hóa tế bào, gần đây Jing Song Zhang (2002) đã chiết được một chất đặt tên là GLIS từ quả thể Linh chi làm tăng sinh bạch huyết bào ở lách chuột thí nghiệm và là một nhân tố kích thích lympho bào B làm tăng khả năng miễn dịch cho người sử dụng.

Một số loại sản phẩm từ Linh chi ở các nước

Ở các nước trên thế giới, Linh chi có thể dùng ở dạng nguyên tai nấm (quả thể), xắt lát (sắc uống với liều mỗi ngày từ 4 - 8 g dùng dài ngày), xay thành bột mịn hoặc chế biến thành những dạng thành phẩm như: viên nang, viên nén, trà hòa tan, trà túi lọc, kem đánh răng, kem thoa mặt, hoặc phối hợp với các dược liệu khác thành những sản phẩm hỗn hợp. Số lượng, chủng loại mặt hàng rất phong phú và đa dạng. Giá trị hàng năm trên thế giới của Linh chi và các sản phẩm từ Linh chi là 1,6 tỷ USD (Chang & Buswell, 1999).

Việc dùng Linh chi để giữ gìn sức khỏe ngày càng trở nên phổ thông ở nhiều nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam trong thời gian gần đây. Liều dùng thường được đề nghị như sau: từ 4 đến 30 g nấm khô mỗi ngày, tùy vào việc chỉ để giữ gìn sức khỏe hay dùng để điều trị bệnh.

ThS. CỔ ĐỨC TRỌNG - DS. PHAN ĐỨC BÌNH