Theo TS.BS. Nguyễn Văn Thọ, giám đốc BVTT TW2, sau khi tiếp cận với các em học sinh bị ảnh hưởng và những người có liên quan, đoàn chuyên gia đã tìm ra nguyên nhân tác động khởi phát dịch bệnh. Từ đó đề ra những biện pháp can thiệp thích hợp bao gồm: báo cáo thuyết trình về nguyên nhân, cơ chế, triệu chứng của bệnh, cho cán bộ y tế cơ sở, giáo viên và phụ huynh học sinh, giải tích hợp lý trực tiếp đến các em học sinh bị ảnh hưởng và chuyên giao quy trình can thiệp cho cán bộ y tế cơ sở, giáo viên nhà trường để tiếp tục làm giảm nhẹ dịch bệnh, đề phòng tái phát và các trường hợp mới xuất hiện. Khoảng 2 tuần sau khi can thiệp các triệu chứng ở các học sinh giảm hết hẳn và không có trường hợp mới mắc nào vừa xuất hiện .
Hơn một tháng sau khi tiếp xúc và áp dụng các biện pháp can thiệp , dịch bệnh rối loạn phân ly tập thể đã được dập tắt hẳn và các em học sinh của trường đã trở lại đi học, sinh hoạt bình thường.
Rối loạn phân ly là gì?
Rối loạn phân ly (dissociation) hay trước đây gọi là hysteria đã được biết đến từ lâu. Khoảng 400 năm trước công nguyên, Hypocrates lần đầu tiên dùng thuật ngữ hysteria để mô tả trạng thái bệnh lý ở những người nữ Hy Lạp không chồng với các triệu chứng: ngất xỉu, co giật, đau bụng, buồn nôn, nhức đầu, chóng mặt… Ông cho rằng căn nguyên bệnh là do tử cung. Các triệu chứng này được mô tả là có thể lây truyền rất nhanh sang những phụ nữ lân cận khác.
Ngày nay, nhiều tác giả đã mô tả những sự kiện được gọi là hành vi tập thể xuất hiện một cách không tự ý như là sự điên loạn đám đông, sự kỳ cục tập thể.
Conner (1968) cho rằng những hành vi tập thể trên xảy ra dưới tác động của stress, thường đưa đến trật tự hay yếu tố văn hoá của một nhóm người nào đó bị phá vỡ, thay đổi, tạo tâm lý bất an.
Kerckhop và Bach (1968) cũng mô tả hình thức khác của hành vi tập thể, đó là sự lây truyền hysteria (hysteria contagion), trong đó có sự lây truyền rất nhanh của một hay một nhóm triệu chứng. Sự lan truyền này xảy ra trong nhóm người có mối quan hệ nào đó về môi trườngvà stress. Hình thức này được gọi là phân ly tập thể (mass hysteria) hay bệnh tâm sinh tập thể (mass psychogenic illness).
Theo Small và Borus (1983) hơn 60% trường hợp phân lytập thể là xảy ra ở trường học. Ngày nay nó thường được đổ lỗi trước tiên cho mùi độc, xăng và hoá chất hay ô nhiễm môi trường.
Tháng 11/2007, một căn bệnh bí hiểm đã tấn công vào một trường trung học tại Chalco, gần Mehico City. Có 600 học sinh nữ ( tổng số 3600 em ) tuổi từ 12 – 17 bị các triệu chứng lạ: khó vận động, sốt và buồn nôn . Bệnh xảy ra sau khi học sinh trở lại trường sau kỳ nghỉ 10 ngày. Không có nguyên nhân nào được tìm thấy, cuối cùng được kết luận là phân ly tập thể. Tiến sĩ Victor Manual Tores Mera, giám đốc phụ trách các dịch bệnh thuộc Bộ Y tế Mehico cho biết: các nữ sinh sống trong môi trường có tổ chức cao, kỷ luật và khuôn phép hàng ngày nghiêm ngặt. Mối liên hệ giữa các học sinh với cha mẹ và xung quanh rất ít (một năm được thăm cha mẹ 3 lần , chỉ được viết thư, không được gọi điện thoại). Môi trường như vậy đã tạo stress cho các em và là căn nguyên phân ly tập thể.
Tháng 10/2007, tại trường Puchong Nernada Nationa School ( Malaysia), một nữ sinh 15 tuổi sau khi thét lên một tiếng rồi ngất xỉu. Bệnh nhanh chóng lan ra các nữ sinh khác với các triệu chứng tương tự. Kết luận cuối cùng cũng là phân ly tập thể.
Bệnh xảy ra ngày càng nhiều ở nước ta
Gần đây hiện tượng rối loạn phân ly hàng loạt xảy ra ở một số nơi, gây xôn xao dư luận.
Tháng 11/2000, tại trường THCS La Hà - Quảng Ngãi có 19 em học sinh tuổi từ 12 - 14, vào thời điểm thi học kỳ đã sảy ra phân ly hàng loạt, khởi đầu có một em học sinh xuất hiện cơn mệt mỏi , tức ngực, ngất xỉu, có ảo thị nhìn thấy hình ảnh lạ. Trong vòng 15 ngày đã có 19 em mắc triệu chứng tương tự tương tự. Các em được đưa đến bệnh viện điều trị bằng thuốc bổ, an thần nhẹ, săn sóc tâm lý. Trong vòng 2 đến 10 ngày thì hết bệnh.
Tháng 4/2001, tại một thị trấn Ba Tơ - Quảng Ngãi có 200 em học sinh lớp 10 và lớp 12 bị ngất xỉu từng cơn và kèm theo ảo thị nhìn thấy người lạ đe doạ. Tình trạng xảy ra khi thời tiết quá nóng, các em đi học xa , cuối giờ đói và mệt. Các em đã được trung tâm y tế dự phòng, trung tâm sức khoẻ tâm thần tỉnh khám, kết hợp nhà trường giải thích, hướng dẫn cách chăm sóc các em. Sau một thời gian ngắn, tất cả khỏi bệnh.
Tháng 4/2002, tại xã Cụm Nam, huyện Khánh Sơn, Khánh Hoà xảy ra hiện tượng rối loạn hàng hoạt ở 12 nữ từ 12 đến 36 tuổi. Các triệu chứng biểu hiện tượng tự nhau : không ngủ, nói vô nghĩa, nhìn thấy ông già và trẻ con cầm gậy, dao, dây đuổi bắt hoặc dụ vào rừng gây hoang mang, sợ hãi, bỏ chạy. Những người lây truyền đều có quan hệ họ hàng hoặc tham gia cứu chữa cho người bệnh đầu tiên. Người mắc bệnh đầu tiên có biểu hiện loạn thần cấp do nhiễm siêu vi với triệu chứng mê sảng. Các triệu chứng tâm thần này đã lan truyền sang những người khác.
Tháng 3/2003, 79 học sinh trường THPT xã Hoài Ân, Bình Định bị ngất xỉu. Tháng 5/2006, tại trường THPT Phú Mỹ, Bà Rịa- Vũng Tàu có 165 học sinh bị ngất. Cán bộ Y tế tới khám, tuyên bố học sinh nào thấy mệt thì nghỉ 2 – 3 ngày rồi đi học. Ngày hôm sau không có học sinh nào lên cơn. Tháng 10/2007, có 131 trường hợp ngất xỉu tại trường THPTNguyễn Tất Thành, xã Đạo Nghĩa, huyệnĐăk-Rlap. Cuối năm 2007, nhiều học sinh bị bệnh hàng loạt ở các tỉnh An Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh.
Một trường hợp cụ thể
Tại một trường trung học ở huyện Châu Đức thuộc ngoại ô tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Đây một huyện có cư dân thu thập chủ yếu từ nông nghiệp và ngư nghiệp. Trường học nơi xảy ra dịch bệnh là trường PTTH Nguyễn Du có tổng số 1500 học sinh trong đó bao gồm 900 học sinh nữ- dịch bệnh chỉ xảy ra ở các học sinh khoá lớp 10 và chỉ ở các học sinh nữ. Khoá lớp 10 có tổng số 12 lớp và 300 học sinh nữ.
Trường hợp đầu tiên khởi phát ngày 1/10/2008, sau khi tiêm ngừa vắc xin uốn ván cho nữ sinh lớp 10, thì các em nữ sinh ngay sau khi tiêm chủng cảm thấy chóng mặt, khó thở và sau đó là ngất xỉu. Học sinh này lập tức được đưa vào nằm nghỉ tại phòng y tế trường học. Sau khi chứng kiến trường hợp ngất xỉu đầu tiên, lập tức có khoảng 4 em nữ sinh có các triệu chứng tương tự như: chóng mặt, đau đầu, khó thở và ngất sau khi tiêm chủng. Hiện tượng này đã gây hoang mang lo lắng cho các em học sinh và các thầy cô giáo, lẫn phụ huynh. Y tế nhà trường có đưa các em đến Trung tâm Y tế huyện cấp cứu, nhưng tại đây các cán bộ y tế cho rằng các em không bị bệnh gì và không có biện pháp xử trí thích hợp rồi cho các em về. Đến buổi chiều hôm sau, tiếp tục có 2 em bị khó thở chóng mặt rồi ngất xỉu sau tiêm ngừa. Đặc biệt có em đã tiêm ngừa buổi sáng đến chiều có cơn tương tự. Ngày hôm sau do phản ứng của các học sinh và phụ huynh, nhà trường tạm ngưng không tiêm chủng cho các em.
Tuy nhiên, vào các buổi chiều tiếp theo có thêm 2 học sinhnữa có các triệu chứng tương tự và bị ngất xỉu. Tổng cộng có 10 học sinh bị ảnh hưởng . Nhà trường phối hợp với Trung tâm Y tế huyện thực hiện việc kiểm nghiệm lô vắc xin tiêm chủng và công bố kết quả lô thuốc đạt chất lượng tốt. Nhưng tình trạng bệnh của các em vẫn tiếp tục tiếp diễn và có khuynh hướng trầm trọng thêm. Mỗi chiều các em học sinh nêu trên đều xuất hiện 1 đến 2 cơn, các triệu chứng xuất hiện thêm sau ngất các em vật vã, gào thét, khóc lóc. Cơn kéo dài khoảng 15 - 30 phút, sau đó tự khỏi . Tình trạng ngất xỉu hàng loạt gây không khí hoang mang, lo lắng cho thầy cô, phụ huynh và các em học sinh trong trường. Phụ huynh các em học sinh bị ảnh hưởng chiều nào cũng đến trường để chăm sóc con em mình khi có cơn. Có 2 trường hợp ảnh hưởng nặng, các em không thể học tập bình thườngđã được gia đình đưa lên khám và điều trị tại các bệnh viện ở TP. Hồ Chí Minh nhưng vẫn không thuyên giảm. Tình trạng này kéo dài khoảng 1 tháng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc học hành của học sinh và gây hoang mang lo lắng tại địa phương. Nhà trường đã có yêu cầu sự trợ giúp từ Bệnh viện Tâm thần Bà Rịa – Vũng Tàu và bệnh viện đã cử bác sĩ xuống thăm khám và có một số biện pháp can thiệp nhưng không đạt hiệu quả.
Do đó Bệnh viện Tâm thần tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã yêu cầu sự trợ giúp của Bệnh viện Tâm thần Trung ương 2. Đoàn cán bộ BVTT TW2 bao gồm giám đốc và 4 bác sĩ đã đến làm việc và tiếp xúc các cán bộ Y tế cơ sở , thầy giáo, học sinh và phụ huynh.
Các bác sĩ đã áp dụng biện pháp tiếp xúc trực tiếp với các đối tượng liên quan theo thứ tự: cán bộ y tế cơ sở, giáo viên, phụ huynh và cuối cùng các em học sinh bị ảnh hưởng . Phương pháp tiếp cận là phỏng vấn riêng biệt từng nhóm đối tượng - mục tiêu can thiệp là xác định chính xác dịch bệnh rối loạn phân ly tập thể, các yếu tố thúc đẩy liên quan và sau đó giải thích, tuyên truyền nhằm giảm thiểu sang chấn, giảm nhẹ các triệu chứng và ngăn chặn các trường hợp mới.
Đầu tiên qua tiếp xúc các bác sĩ của Bệnh viện Tâm thần tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và các giáo viên trực tiếp chứng kiến của trường, bước đầu nhận định rất có khả năng đây là trường hợp rối loạn phân ly tập thể. Các biện pháp can thiệp ban đầu của Y tế cơ sở và nhà trường chưa phù hợp và chưa đạt hiệu quả cần thiết, nên tình trạng bệnh kéo dài.
Nhóm đối tượng thứ hai mà các bác sĩ tiếp xúc là phụ huynh của các em học sinh bị ảnh hưởng. Đây là nhóm đối tượng thực sự khó khăn nhất trong việc tiếp cận và tuyên truyền giải thích . Tất cả cha mẹ học sinh rất lo sợhoảng hốt trước tình trạng của con em họ. Đa số đều cho rằng nguyên nhân bệnh tật của con em mình là hậu quả của việc tiêm ngừa vắc xin, có thể do chất lượng không đảm gây ra phản ứng. Thái độ của phụ huynh khi tiếp xúc với bác sĩ là rất giận dữ, đổi lỗi cho ngành y tế và muốn được bồi thường bệnh tật cho con em. Một số người còn có thái độ chống đối mạnh mẽ và bất hợp tác. Tuy nhiên bằng sự điềm tĩnh và hợp lý trong cách giải thích tình trạng này về cơ chế , đặc điểm diễn tiến của rối loạn phân ly tập thể, họ đã giúp cho phụ huynh học sinh hiểu rõ phần nào của bệnh tật và an tâm hơn về tình trạng của con em mình. Cuối buổi tiếp xúc, hầu hết phụ huynh đã thay đổi về nhận thức và thái độ, không còn giận dữ, hằn học như ban đầu, thậm chí vui và thoải mái, trao đổi riêng với các thành viên trong đoàn. Bằng chứng kết quả đạt được là trong buổi đầu tất cả các phụ huynh đều hợp tác đưa các em học sinh đến gặp các bác sĩ trong đoàn mặc dù hôm ấy là ngày nghỉ.
Đối với các em học sinh, các bác sĩ tiếp xúc được 8 trong số 10 em học sinh bị ảnh hưởng. Tất cả các em ở tuổi 15 , đều là học sinh nữ của khối lớp 10, hai em không tiếp xúc được, trong đó 1 em còn đang nằm điều trị tại Bệnh viện Chợ rẫy, 1 em không còn cơn đã 2 tuần nay, do vậy gia đình không đưa đến.
Các triệu chứng biểu hiện:
Tất cả các em đều có cùng khởi phát với triệu chứng đầu tiên là: chóng mặt, đau đầu, khó thở và sau đó ngất. Cơn kéo dài khoảng 15 đến 30 phút tự hết. Ngày có từ 1 đến 2 cơn, ngày nào cũng xuất hiện cơn. Các triệu chứng khác có thể có bao gồm: cảm giác ớn lạnh, buồn nôn và nôn, co giật. Khoảng 2 tuần sau xuất hiện các triệu chứng la hét, vùng vẫy, kêu gào, khóc lóc.
Cơn xuất hiện đầu tiên ở em học sinh nữ trước đây là lớp trưởng (hiện tại đã thôi chức). Qua tìm hiểu đây là học sinh giỏi liên tục và làm lớp trưởng nhiều năm liền từ cấp tiểu học lên đến trung học cơ sở. Đầu năm lớp 10 thì em vẫn làm lớp trưởng nhưng sau đó từ chức, vì cho rằng ở lớp có nhiều bạn học giỏi hơn, xứng đáng làm lớp trưởng hơn. Em học sinh có mối quan hệ thân thiết với các em còn lại , ở gần nhà nhau và các em chơi chung với nhau từ nhỏ.
Yếu tố cá nhân và gia đình:
Điểm đáng ghi nhận 6 trong 8 em được tiếp xúc là con út hoặc con duy nhất trong gia đình có từ 3 đến 4 anh chị em. Đa số đều xuất thân từ gia đình lao động nghèo và có học lực giỏi từ nhỏ. Chỉ có 2 em gia đình có bố hay uống rượu và gây gổ thường xuyên với mẹ. Hai em có tiền sử hay ngất lúc nhỏ khoảng 8 – 10 tuổi, được bác sĩ cho rằng bị hạ đường huyết hoặc hạ canxi, nhưng thời gian gần đây không còn bị ngất nữa.
Không ghi nhận trong tiền sử gia đình các em có người thân bị các triệu chứng tương tự hoặc bị rối loạn tâm thần. Vì áp lực học tập, các em thường có tổng thời gian học từ 10 đến 12 giờ mỗi ngày bao gồm cả giờ học ở trường, học thêm và tự học.
Tất cả các em đều cảm thấy lo sợ trước khi tiêm ngừa vì biết được thông tin một số tai biến do tiêm vắc xin trong thời gian gần đây qua phương tiện thông tin đại chúng.
Kết quả: Đối chiếu các tiêu chuẩn chẩn đoán , các bác sĩ xác định đây đúng là trường hợp rối loạn phân ly tập thể. Các bác sĩ tiếp cận các em bằng cách phỏng vấn trực tiếp, thời gian phỏng vấn mỗi em khoảng 2 giờ. Nội dung tiếp cận tìm hiểu quá trình bệnh tật, các yếu tố thúc đẩy, các yếu tố stress, áp lực học tập, xác định nguyên nhân chủ yếu gây ra ảnh hưởng. Sau đó giải thích cho các em về bệnh tật, động viên, yên tâm rằng tình trạng bệnh hiện nay chỉ do tâm lý, không có khả năng gây di chứng lâu dài, động viên các em yên tâm bệnh không do chất lượng hay tác dụng phụ của vắc xin.
Sau buổi làm việc, các em học sinh đều rất thoải mái, vui vẻ. Các em cho rằng các bác sĩ đã khiến các em yên tâm về bệnh trạng của mình và hiểu được phần nào về bệnh tật. Các em cũng cho biết, suốt buổi chiều trò chuyện với bác sĩ, các em không bị cơn nào, nếu không mỗi em sẽ xuất hiện từ 1 đến 2cơn.
Tiếp tục quá trình theo dõi trong hai tuần sau đó, mỗi buổi chiều chỉ còn khoảng 1 đến 3 học sinh xuất hiện cơn. Cơn chỉ thoáng qua với triệu chứng chóng mặt, khó thở, đau đầu không có ngất, và không có trường hợp nào mới mắc. Các phụ huynh học sinh cũng không đến trường mỗi buổi chiều để chăm sóc con em mình. Không khí học tập trong trường cũng tương đối trở lại bình thường. Sau khoảng hơn một tháng, tình trạng rối loạn phân ly tập thể ở trường cũng chấm dứt hoàn toàn, kể cả các em học sinh đang điều trị ởBệnh viện Chợ Rãy cũng đã trở về học tập bình thường. Không có trường hợp nào mắc thêm. Bệnh dịch chấm dứt sau hơn một tháng áp dụng các biện pháp can thiệp thích hợp.
Thấy gì qua hiện tượng phân ly tập thể tại Bà Rịa – Vũng Tàu?
Theo TS.BS. Nguyễn Văn Thọ, đây là trường hợp điển hình đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn phân ly tập thể của Đại học Bloomington Indiana – Hoa Kỳ. Do không có biện pháp can thiệp kịp thời, bệnh dịch kéo dài ảnh hưởng xấu đến tình trạng học tập của học sinh, gây ra dư luận không tốt trong cộng đồng và tốn kém rất nhiều về kinh tế. Sau khi xác định chẩn đoán và áp dụng qui trình tiếp cận, biện pháp can thiệp thích hợp thì tình trạng dịch bệnh thuyên giảm và chấm dứt nhanh chóng hoàn toàn.
Yếu tố cá nhân:
Bệnh lý tâm thần của cá nhân đóng vai trò quan trọng trong việc xảy ra các cơn bộc phát bệnh. Moss và McEvedy (1966) gợi ý rằng các em gái dễ bị phân ly tập thể hơn, các rối loạn này nặng nề và kéo dài hơn ở các em lớn tuổi. Nhiều đặc trưng của dịch bệnh này do Sirosis báo cáo (1974) về 70 đợt bộc phát của rối loạn phân ly tập thể, cho thấy đa số xảy ra ở trường học và hầu hết xảy ra ở nữ giới.
Đa số các đối tượng mắc bệnh đều dưới 20 tuổi và đều xuất thân từ tầng lớp kinh tế xã hội kém ở các vùng ven, ngoại ô thành phố. Umaporn Tranghasmbat và Umbon Su_upan (1993) mô tả đợt bộc phát bệnh tại một trường ở Nam Thái lan đã đột ngột ảnh hưởng đến 32 học sinh nữ tuổi từ 9 – 14. Rabi Shakya (2003) mô tả 70 trường hợp nữ học sinh trong lứa tuổi 16 bị rối loạn phân ly tập thể và một trường học vùng ngoại ô Đông Nepal. Hầu hết các học sinh thuộc các gia đình nghèo, có trình độ học vấn thấp và làm nông nghiệp. Các tác giả cho rằng yếu tố nhân cách chiếm tỉ lệ cao ở các đối tượng (Sirois, 1974; Suwanlet, 1974). Các em thường là con đầu lòng, con út hoặc con một trong gia đình thường tự cho mình là trung tâm, sự chịu đựng thất bại kém và kịch tính hóa.
Các đối tượng học sinh nói trên cũng đều là nữ cùng một lứa tuổi (15 tuổi) và đa số là con út hoặc con một trong gia đình đông anh em. Trường học xảy ra dịch bệnh ở huyện nông thôn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có điều kiện kinh tế không cao. Đây là yếu tố tương đồng với những nghiên cứucủa các tác giả nêu trên y văn thế giới.
Yếu tố văn hóa:
Một số khía cạnh văn hóa cần được xem xét. Đầu tiên là hệ thống niềm tin. Vấn đề chúng tôi muốn đề cập ở đây không phải là niềm tin về tôn giáo, tín ngưỡng mà niềm tin về yếu tố văn hóa xã hội. thời gian gần đây tại Việt Nam, các phương tiện thông tin đại chúng liên tục đăng tải đưa tin về các trường hợp tai biến do chủng ngừa vắc xin ở trẻ em cũng như người lớn đã tạo ra tâm lý lo ngại trong cộng đồng đối với tiêm chủng. Có rất nhiều bà mẹ không dám đưa con mình đi tiêm trong chương trình tiêm chủng vì sợ bị tai biến. Do đó khi xảy ra triệu chứng bệnh ở trường hợp đầu tiên thì hầu hết các em học sinh, phụ huynh và thậm chí thầy cô giáo đều nghi ngờ do chất lượng vắc xin. Khi dịch bệnh lan rộng thì niềm tin này cũng được củng cố. Mặc dù sau khi đã được cam kết của trung tâm y tế huyện về chất lượng vắc xin đã sử dụng, mọi người vẫn không tin đều cho rằng đây là hậu quả sau tiêm chủng, và ngành y tế phải chịu trách nhiệm. Đây chính là yếu tố góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy dịch bệnh lan rộng và trầm trọng thêm. Các yếu tố văn hóa và kinh tế xã hội có thể hỗ trợ lẫn nhau tạo nên sự gắn kết mạnh mẽ với giá trị văn hóa nhất là đối với vùng nông thôn. Ở nông thôn với niềm tin mạnh mẽ vào linh hồn, phân ly có thể là một biểu hiện khác của vấn đề cảm xúc liên quan đến văn hóa. Các báo cáo về rối loạn phân ly tập thể ở các trường học Thái Lan, Nepal đều có liên quan đến niềm tin vào linh hồn người đã chết….
Áp lực học tập và động lực nhóm:
Trong nghiên cứu về rối loạn phân ly tập thể, việc đánh giá phải bao gồm các phân tích về bối cảnh xã hội và động lực nhóm. Trong báo cáo của Suwanlert và cộng sự (1979) nhiều trẻ em trong nghiên cứu này đã bị nhiều sang chấn và tổn thương trước đó . Theo tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn phân ly có tiêu chuẩn về yếu tố stress liên quan đến nhà trường và nơi làm việc phổ biến là bắt đầu năm học. Trường hợp rối loạn phân ly tại Bà Rịa – Vũng Tàu, ghi nhận thời điểm khởi phát vào tháng 10 sau khai giảng năm học mới một tháng. Mặc dù hầu hết các đều cho rằng không cảm thấy lo lắng nặng nề về học tập nhưng rõ ràng với thời gian trung bình học từ 10 – 12 giờ mỗi ngày đã ghi nhận được, thì rõ ràng áp lực học tập lên các em đóng vai trò không nhỏ. Đặc biệt các em bị bệnh đều học giỏi từ nhỏ và mới chuyển cấp bước vào năm đầu của phổ thông trung học.
Yếu tố nhóm và động lực nhóm rất quan trọng tạo ra rối loạn phân ly tập thể (Sirois, 1974). Trong tình huống bị cô lập và bị sang chấn quá mạnh điều này có thể dẩn đến “lây nhiễm cảm xúc” và lan rộng các triệu chứng trong rối loạn phân ly tập thể (Klaft, 1994).
Trong trương hợpp ở Bà Rịa Vũng Tàu, các em bị bệnh ở gần nhà nhau, chơi chung với nhau từ bé và đều học giỏi. Trong đó em khởi phát bệnh đầu tiên là học sinh giỏi và là lớp trưởng nhiều năm liền. Em này đóng vai trò hạt nhân có nhiều ảnh hưởng đối với nhóm và có thể được xem là ngòi nổ của bùng phát dịch bệnh. Yếu tố sang chấn của riêng học sinh này là bắt đầu năm lớp 10 không còn được làm lớp trưởng vì có nhiều bạn trong lớp học giỏi hơn. Động lực nhóm đã đóng vai trò quan trọng trong trường hợp rối loạn phân ly tập thể. Rối loạn chủ yếu chỉ lan truyền trong các em trong nhóm chơi chung với nhau, chỉ tập trung trong hai lớp học, mặc dù khối 10 của trường có đến 12 lớp và các lớp này đều có học sinh tiêm ngừa vắc xin.
Biện pháp can thiệp
Các biện pháp can thiệp không đúng có thể góp phần làm tăng sự trầm trọng của bệnh. Xử trí cấp cứu ban đầu của cơ sở y tế địa phương không thật sự hợp lý, những giải thích không đúng như “không có bệnh gì” hoặc “bệnh của các em là do không muốn học” có thể gây ra tác dụng trái ngược.
Từ việc tiếp xúc với các em học sinh và những người liên quan, nhất là đối với phụ huynh, các bác sĩ đã xác định rằng các triệu chứng có liên quan đến lo sợ về chất lượng vắc xin tiêm ngừa.
Ở đây bác sĩ áp dụng biện pháp can thiệp chính là tuyên truyền giáo dục. Biện pháp được thực hiện là các buổi nói chuyện, trình bày trọng tâm chính là giải thích về cơ chế, tính chất bệnh tật và cách thức giải quyết. Khi tuyên truyền giáo dục vào nhóm đối tượng cha mẹ học sinh đạt được hiệu quả thì vấn đề đã được giải quyết một phần không nhỏ. Các giáo viên, cán bộ y tế cơ sở được hướng dẫn qui trình tiếp cận và giải quyết vấn đề, mục đích giảm thiểu các sang chấn, làm cho các em và gia đình yên tâm, hạn chế sự tiếp cận không cần thiết với các thủ thuật y khoa, nhân viên cấp cứu, các tình huống gây lo âu khác.
Có biện pháp can thiệp đúng đắn và thích hợp, cùng đội ngũ chuyên gia có kinh nghiệm có thể giải quyết nhanh chóng dịch bệnh rối loạn phân ly tập thể, giảm thiểu những thiệt hại về tinh thần cũng như vật chất và ngăn chặn được những bất an trong cộng đồng bị ảnh hưởng. Trong rối loạn phân ly tập thể, mối quan hệ cộng đồng là vấn đề quan trọng cần được nắm bắt thận trọng để tránh sự hiểu lầm đôi khi làm phức tạp thêm bệnh cảnh (Carter, 1989)
Qua báo cáo này, TS.BS. Nguyễn Văn Thọ cho rằng việc hiểu biết cơ chế bệnh sinh, triệu chứng học, tiêu chuẩn chẩn đoán, các yếu tố cá nhân và xã hội, và các qui trình tiếp cận, biện pháp can thiệp đúng đắn thích hợp rất quan trọng. Kết hợp các yếu tố này sẽ cung cấp hình ảnh rõ ràng và toàn diện hơn về rối loạn phân ly tập thể và sẽ xác định các can thiệp tối ưu để nhanh chóng giảm nhẹ và dập tắt dịch bệnh.

